Thứ Tư, 30 tháng 12, 2015

Ấn tượng cuối năm.2015

Không chỉ có vấn đề Biển Đông, vận mệnh nước Việt những năm tháng này cũng đầy cam go… , với những nhân sự lãnh đạo U 40, con đường phía trước quả là áp lực,  buộc họ chọn lựa thái độ sống : Vì lợi ích quốc gia hay vì cái gì ?

Bài 1
Năm 2015 : Nước Việt trong ấm lạnh của hành trình phát triển
Tấm màn thiên thanh của năm cũ sắp buông xuống, để mở ra năm mới 2016 với tất cả hy vọng lẫn âu lo của nước Việt. Sao không hy vọng và âu lo được, bởi năm 2015, nước Việt đã trải qua biết bao vui buồn, ấm lạnh trong hành trình phát triển. Có quá nhiều sự kiện, vụ việc để dư luận xã hội quan tâm, bàn luận.
"Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời"
Hẳn bây giờ, cứ lẩy tới câu Kiều nổi tiếng này, người dân Việt lập tức nhớ đến sự kiện lớn diễn ra trong tháng 7/2015. Đó là chuyến thăm Mỹ đầu tiên của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng- một chuyến đi được dư luận xã hội trong nước, quốc tế hết sức quan tâm và chú ý. Cho dù trước đó đã có 04 chuyến đi của các vị Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ sang thăm và làm việc, nhưng đây là chuyến đi đầu tiên của người lãnh đạo cao nhất của Đảng tới nước Mỹ.
viet2
Câu thơ Kiều do vị Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden lẩy giữa cuộc chiêu đãi người đứng đầu cao nhất của Đảng, như một thông điệp tế nhị và thiện chí- về sự xích lại gần nhau giữa những quốc gia trong qúa khứ, không chỉ khác biệt sâu sắc về ý thức hệ tư tưởng, mà còn có quá nhiều những xung đột tổn thương. Một chuyến đi được giới quan sát cho rằng mang tính "biểu tượng" nhưng đó là sự "biểu tượng" có ý nghĩa thiết thực.
Vết thương đó đã được… khâu vá bằng những mũi kim ngoại giao khéo léo của suốt 20 năm bình thường hóa quan hệ giữa hai bên, một cuộc "vá may" đường trường trong lịch sử đối ngoại của nước Việt. Nhưng điều quan trọng hơn, sự tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời đó đem đến cho mỗi quốc gia những lợi ích của sự hợp tác và phát triển, nhất là với nước Việt, nền kinh tế xã hội còn quá nhiều vật cản, từ nhận thức, tư duy, mô hình tổ chức kinh tế đến cung cách quản lý khá nhiều non yếu, lỏng lẻo…
Trong cái sự xích lại gần đó, các hiệp định thương mại nay mai Việt Nam sẽ tham gia, trong đó Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)- cây cầu thương mại bắc qua giữa hai nền kinh tế thị trường, một bên đã có hàng trăm năm, một bên chỉ vỏn vẹn có 30 năm, có vẻ như được nước Việt trông đợi nhất.
Nhưng cũng chính vì sự "vênh" nhau giữa hai bờ phát triển, mà cơ hội cùng lúc với thách thức, đang đối mặt với quốc gia bên bờ Biển Đông vốn nhiều sóng gió này.
"Cuộc cờ" hội nhập đang cần những nước cao tay !
Theo Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, xét về tác động kinh tế, TPP có thể đóng góp tăng tới 8% vào GDP của Việt Nam, 17% vào kim ngạch xuất khẩu thực tế, và 12% vào trữ lượng vốn quốc gia trong vòng 20 năm tới. Không chỉ loại bỏ các rào cản thương mại, tăng cường tiếp cận thị trường xuất khẩu chủ lực, TPP còn có những tác động hữu hình tới chất lượng thi hành pháp luật, quyền sở hữu trí tuệ, quản lý doanh nghiệp nhà nước…(TBKTSG, ngày 08/10). Cái lợi đã thấy rõ.
Nhưng cái áp lực cũng không kém. Bởi khi đã cam kết, nước Việt đồng thời phải chấp nhận không ít cam go, nhất là thực hiện cải cách thể chế kinh tế, tái cơ cấu kinh tế, chấp nhận các luật quy định nguồn gốc xuất xứ hàng hóa. Bởi nhận thức và tư duy cố hữu về vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Bởi xuất khẩu hàng hóa của nước Viêt lâu nay phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên liệu và hàng hóa trung gian.
Mà xưa nay, khó khăn nhất là thay đổi tư duy và quan niệm của chính mình !
Không chỉ có cải cách thể chế kinh tế, cam kết gia nhập TPP, nước Việt cũng sẽ phải tuân thủ những quy định về quyền thành lập tổ chức đại diện của người lao động tại cơ sở, tiêu chuẩn lao động- những quy định bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của người lao động theo xu hướng hội nhập, cởi mở và dân chủ hơn. Điều đó đòi hỏi năng lực, kỹ năng thương thảo, hòa giải, thuyết phục và chấp nhận sự cạnh tranh của chính các tổ chức công đoàn truyền thống lâu nay.
Liệu nước cờ của nước Việt sẽ ra sao ?
Khó nhất là thay đổi từ… nhà nước
Sự phát triển kinh tế mỗi quốc gia bao giờ cũng phản chiếu tầm tư duy của chính quốc gia đó. Nhưng như một quy luật thường tình của đời sống, thực tiễn xã hội luôn có những vị ngọt ngào cùng cay đắng.
Ngọt ngào khi người ta gặt hái. Khi tư duy đi cùng thời đại. Và cay đắng khi thất bát. Khi tư duy đó đã trở nên lỗi thời trước những phát triển nhanh và mạnh của văn minh nhân loại và lịch sử.
Nước Việt đã có những thành quả của 30 năm Đổi mới từ cơ chế xin-cho bao cấp, sang cơ chế quản lý kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng nước Việt cũng đang tụt hậu. Không cần so với các quốc gia văn minh tiên tiến có bề dày kinh tế thị trường, mà so với yêu cầu phát triển, so với tốc độ vận hành của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đều tiến theo hướng thuận, thì nước Việt lại theo hướng… không được thuận lắm.
Không phải ngẫu nhiên, tại Diễn đàn tổng kết 30 năm Đổi mới được tổ chức tại Hà Nội, các chuyên gia kinh tế đã nhận định, tình trạng tụt hậu của đất nước là do tư duy cũ kỹ, xơ cứng. Chúng ta đã chọn sai mô hình tăng trưởng, lại chưa có thể chế mạnh tạo động lực phát triển. Người Việt thích tranh luận nhưng chỉ luẩn quẩn trong mấy chữ mà mất hai, ba chục năm nay. Có những khái niệm như "vòng kim cô" ghì chặt sự phát triển của đất nước (TBKTSG, 19/11).
Cái sự cũ kỹ đó phản chiếu ngay trong những thông tin ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội trả lời phỏng vấn báoVnEconomy, ngày 01/11 : "Nhìn cả quá trình thì từ 2008 đến nay Việt Nam có xu hướng phát triển… ngược thế giới".Ngược thế nào ? Theo ông Nguyễn Đức Kiên, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước chậm chạp. 432 tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải cổ phần hóa theo kế hoạch, nhưng đến nay còn hơn 100 tập đoàn, Tổng công ty chưa cổ phần hóa được.
Trong lúc doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 1,5 triệu tỷ đồng và tổng tài sản là gần 5 triệu tỷ đồng, không những không có tác động tích cực với nền kinh tế mà còn đang bon chen với doanh nghiệp dân doanh kiếm lợi nhuận từ nền kinh tế. Từ đó tốc độ nợ công tăng nợ cao hơn GDP. Tốc độ tăng nợ bình quân đến 18% bình quân, còn GDP tăng chỉ có 5,88%, rất nguy hiểm (Tuần Việt Nam,ngày 07/11).
Không phủ nhận những doanh nghiệp nhà nước vẫn luôn ăn nên làm ra, đóng góp lớn cho quốc gia, nhưng cũng không thể phủ nhận, sự thất bát đó là sản phẩm... "chính chủ" của một môi trường kinh doanh bất bình đẳng, không sòng phẳng giữa các thành phần kinh tế. Đó là, theo ông Vương Đình Huệ, Trưởng ban Kinh tế trung ương, trong khi doanh nghiệp nhà nước được ưu đãi, sử dụng 70% đất đai, 70% viện trợ chính thức ODA, 60% tín dụng của nền kinh tế nhưng chỉ đóng góp 32% tổng GDP cả nước (Nhịp cầu đầu tư, ngày 06/6/2014). Thì doanh nghiệp tư nhân lại bị làm khó dễ đủ điều từ chính quản lý nhà nước các ngành, dù đóng góp 39% tổng đầu tư toàn xã hội và khoảng 50% GDP.
Dẫn đến hiện tượng vô lý- có những doanh nghiệp nhà nước kinh doanh những ngành "độc quyền" làm ăn thua lỗ liên miên nhưng vẫn không phải chịu trách nhiệm. Sự… tán tài đó, cuối cùng chỉ xã hội và người dân lãnh đủ.
Dẫn đến hiện tượng các doanh nghiệp nhà nước coi thường cả những quy định của pháp luật. Đó là vụ việc 662 doanh nghiệp nhà nước trong số 781 doanh nghiệp do nhà nước nắm 100% vốn điều lệ không chịu báo cáo về công nợ cho Bộ Tài chính, làm cơ sở giúp Quốc hội thực thi chức năng giám sát nguồn lực khổng lồ đang được các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ. Trong khi số nợ của 119 doanh nghiệp nhà nước có báo cáo như "chúa Chổm" : Tổng số nợ phải trả là 1.567.063 tỷ đồng, tổng nợ phải thu là 293.617 tỷ đồng, tổng số hàng tồn kho là 216.255 tỷ đồng. Thử hỏi con số nợ của 662 doanh nghiệp nhà nước không chịu… tiết lộ "khủng" thế nào ?
Và dẫn đến những hệ lụy tai hại nhãn tiền mà trong một số bài viết trên Tuần Việt Nam, người viết bài đã nêu ra : Đó là bản chất cơ chế ban phát, xin- cho ở các doanh nghiệp nhà nước khiến cho nơi đây là mảnh đất béo bở cho các loài sâu mọt sinh nở (tham nhũng, lợi ích nhóm), nguyên nhân căn cốt việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước- một quy chuẩn khi tham gia TPP- rất chậm chạp. Mặt khác, các doanh nghiệp tư nhân mặc dù đóng góp lớn, nhưng thiếu động lực để có tầm nhìn xa, có thể góp phần phát triển hơn nữa cho xã hội.
Sự thất bát đó còn là hệ lụy của cách đi… ngược với nguyên lý chung của kinh tế thị trường : Quản lý nhà nước vẫn can thiệp vào kinh doanh. Tháng 3/2013, khi sang thăm Việt Nam, cựu Thủ tướng Anh Tony Blair đã có một lời khuyên chí tình xuất phát từ thực tiễn kinh tế thị trường nước Anh và các quốc gia phát triển. Đó là, trong cải cách kinh tế, vai trò của Chính phủ rất cần thiết khi bảo vệ lợi ích quốc gia, tạo khuôn khổ cho nền kinh tế. Tuy nhiên, vai trò của Chính phủ lại không hiệu quả lắm trong điều hành kinh doanh.
Tại Diễn đàn đối tác phát triển Việt Nam, bà Victoria Kwakwa (Giám đốc Quốc gia của WB tại Việt Nam) và nhiều chuyên gia kinh tế quốc tế tư vấn : Việc chuyển vai trò của Nhà nước từ sản xuất sang quản lý là rất cần thiết. Chính phủ Việt Nam cần có những bước đi rút ra khỏi những lĩnh vực không cần tham gia. Những quyết định thay đổi vai trò của nhà nước như vậy, sẽ giúp Việt Nam cải thiện năng suất lao động, tạo ra một môi trường kinh doanh tốt hơn
Nhưng thay đổi tư duy- nói dễ mà làm- cực khó. Vì sao ?
Không hẹn mà gặp, trả lời TBKTSG (ngày 10/10), ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương cho rằng, trước yêu cầu hội nhập TPP, cải cách hiện nay phải là cải cách… nhà nước. Phải thay đổi chức năng, vai trò, vị trí, cơ cấu tổ chức của nhà nước bao gồm cả bên hành pháp, tư pháp, lập pháp ; cải cách trong nội bộ các nhánh quyền lực thì mới thay đổi được năng lực quản lý. Tức phải đổi mới toàn diện.
Còn ông Trương Đình Tuyển, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam gia nhập WTO, khi tham dự buổi báo cáo của Bộ Công Thương về việc kết quả đàm phán TPP nhận định : "Tôi rất lo cho doanh nghiệp, nhưng tôi lo cho Nhà nước nhiều hơn bởi doanh nghiệp chịu sức ép của cạnh tranh thì phải vươn lên, song bộ máy Nhà nước trì trệ thì rất nguy hiểm".
Đồng cảm với hai nhận xét trên, người viết bài cho rằng, trong mọi cuộc cải cách hay đổi mới, nhân dân là người tạo nên sức mạnh vật chất, nhưng sức mạnh vật chất đó phải được hướng đạo bắt đầu từ nhà nước- từ sự đổi mới về nhận thức, tư duy dẫn đến các chính sách đồng bộ.
"Nước cờ" đó có được đồng cảm hay không, còn ở phía trước
Quyền lực và sự tha hóa
Có lẽ, một trong những vấn đề gây bất bình và nhức nhối xã hội nhất của năm 2015 chính là quốc nạn tham nhũng. Bởi sức tàn phá của loại sâu mọt này làm suy yếu sự phát triển xã hội. Bởi sự tha hóa của không ít những quan chức có quyền lực. Sự tha hóa khiến người dân mất lòng tin, làm suy yếu cả vị thế đất nước trên trường quốc tế.
Nhưng một thống kê mới nhất của Thanh tra Chính phủ khiến bàn dân thiên hạ bất ngờ : Trong 08 năm (2007-2014) có 5,55 triệu lượt (người thuộc đối tượng kê khai tài sản) kê khai thu nhập theo quy định, xác minh 2.632 trường hợp nhưng cuối cùng chỉ xử lý kỷ luật được 18 cán bộ.
viet3
Bất ngờ nữa, báo chí liên tục đưa tin báo cáo số liệu về xử lý tham nhũng 09 tháng đầu năm 2015, Thanh tra Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, cơ quan chức năng chưa phát hiện hành vi tham nhũng. Cách đó không lâu Hà Nội cũng khẳng định, chưa phát hiện trường hợp nào có dấu hiệu tội phạm tham nhũng. Đến mức báo GDVN, ngày 15/12 đã phải giật title : "Chuyện cổ tích" ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh ! Còn Đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc thẳng thắn và hài hước : Vậy thì tham nhũng nằm ở đâu, không lẽ ở nhà quê (Nhà báo và Công luận, ngày 19/12)
Không hài hước sao được, nếu biết rằng hai thành phố lớn này là nơi tập trung không ít các dự án lớn, và trong bối cảnh xã hội mà tham nhũng là quốc nạn, quản lý vốn lỏng lẻo, mà tham nhũng lại "bỏ qua", thì quả là cổ tích ngày xửa ngày xưa…
Khác với dư luận xã hội, ông Huỳnh Phong Tranh, Tổng Thủ tướng chính phủ lại nhìn nhận rất lạc quan công cuộc phòng chống tham nhũng hiện nay. Trả lời báo chí nhân ngày quốc tế phòng chống tham nhũng (9/12), ông khẳng định, Việt Nam có công thức riêng soi tham nhũng, và được đánh giá cao, dựa vào 03 yếu tố : Hoàn thiện thể chế, thực hiện dân chủ và công khai minh bạch cùng với trách nhiệm giải trình.
Người viết bài tự hỏi, chả lẽ, xã hội ta mắc chứng bệnh... hoang tưởng về tham nhũng ?
Chắc chắn không phải ! Trong dịp tiếp xúc với cử tri Q4 (Thành phố Hồ Chí Minh), người đứng đầu nước đã phải thẳng thắn thừa nhận : Trong công tác phòng chống tham nhũng, chúng tôi cảm thấy trách nhiệm của mình không tròn. Buồn lắm, xấu hổ lắm. Tại sao nước mình anh hùng, oanh liệt trong kháng chiến chống ngoại xâm hàng ngàn năm nay, mà nạn tham nhũng thì đứng xếp hạng trên 100 ? Bê bối quá, cảm thấy không thể chấp nhận được.
Thế nên, theo người viết bài này, ông Thủ tướng chính phủ quên rằng, tất cả giải pháp đó vẫn chỉ là lý thuyết mang tính mong muốn. Bởi trong thực tế, muốn chống được tham nhũng, nguồn gốc thu nhập của mọi công dân, nhất là quan chức có quyền lực- quyền lợi, phải được kiểm soát từ gốc. Đó là điều quan trọng nhất.
Việc kê khai tài sản hiện nay tưởng là minh bạch, nhưng lại rất thiếu cơ sở thực tiễn, khi không kiểm soát được gốc tài sản đó từ đâu ra. Nếu công bằng mà nói, sự kiểm soát kê khai tài sản hiện nay mới là nắm được cái… ngọn.
Hãy nghe ông Nguyễn Đình Quyền, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội : Luật Phòng chống tham nhũng được đánh giá "đẹp", tiến bộ, nhưng thực tế chưa hiệu quả. Chúng ta mới kê khai (tài sản) cho đẹp chứ chưa kiểm soát được.
Tiến sĩ Đinh Văn Minh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học thanh tra (Thủ tướng chính phủ) nhận xét : Quy định về kê khai tài sản của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên đang có "lỗ hổng" rất lớn. Người có tài sản dễ dàng chuyển tài sản cho vợ hoặc chồng hoặc con đã thành niên, nhất là những người này không thuộc diện phải kê khai (VietNamNet, ngày 08/12)
Còn giáo sư Carl Thayer, một nhà quan sát kỳ cựu, trả lời phỏng vấn một tờ báo đã cho rằng sứ mệnh này (chống tham nhũng ở Việt Nam - KD) là bất khả thi "chừng nào không có một cơ quan độc lập và có quyền lực, độc lập về hành pháp, tòa án, công an, độc lập về báo chí…".
Chợt nhớ đến bài thơ của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến. Không chỉ có vấn đề Biển Đông, mà vận mệnh nước Việt những năm tháng này cũng đầy cam go. Không hiểu, trong hồn người cócon sóng nào không ?
Con sóng của tình yêu nước Việt, của sự xót xa trước bước chân nước Việt... tụt lại đằng sau.
                                                                          Bài 2
Năm 2015 : Những phát ngôn ấn tượng và thì... tương lai
 Năm 2015 là năm có rất nhiều những phát ngôn ấn tượng khó quên khiến dư luận xã hội dậy sóng. Cũng là năm những thảm án, những "án oan thế kỷ" khiến xã hội bàng hoàng. Cải cách tư pháp, một trong những vấn đề tất yếu và hối thúc không thể né tránh. Bởi đó là một trong ba chân kiềng (lập pháp, hành pháp và tư pháp) làm nên sự vững mạnh của quốc gia.
Và đây cũng là năm có hiện tượng mới- một thế hệ U 40- góp phần gánh vác sự nghiệp lớn.
Liệu họ có mở ra nổi- một trang sử mới của dân tộc?

Không thành công cũng thành... cười
Phát ngôn ấn tượng- từ một tiêu đề của Tuần Việt Nam (báo VietNamNét) giờ đây đã trở thành khái niệm chung của xã hội, được không chỉ dư luận yêu thích vì sự hài hước, mà vô tình cũng được không ít các bác quan chức... yêu thích nên cứ "hồn nhiên" tham gia. Dù họ là những người- muốn hay không- cũng là người của công chúng.
Và năm 2015 cũng vậy, nở rộ các phát ngôn ấn tượng về trí tuệ thì không thành công, nhưng lại thành… cười !
Chiếm nhiều hơn cả, có lẽ là thuộc về ông P.Đ.L, cựu Phó Trưởng ban Tuyên giáo, Thành ủy HN, với hai phát ngôn vừa thương dân "không phải lối" vừa coi thường dân.
Thương dân "không phải lối" khi ông biện minh cho việc đốt pháo hoa tốn tiền tỷ rằng : Biết đâu, những người nghèo họ cũng khao khát được xem bắn pháo hoa, những lúc thưởng thứcbắn pháo hoa giúp họ quên đi cái nghèo, cái khó". Xin hãy hỏi những người nghèo, họ cần những giải pháp thiết thực (cần câu) giúp họ thoát nghèo, hay cần xâu cá (ảo) giúp họ quên nghèo trong chốc lát ?
viet4
Hàng cây mới trồng trên đường Nguyễn Chí Thanh (Hà Nội) thay thế cây bị chặt hạ (chụp ngày 22/3/2015). Ảnh : Kỳ Anh
Vậy, nhưng lại tỏ ra coi thường dân khi ông bênh vực cho việc chặt cây xanh của t/p, bị phản ứng dữ dội bởi cách triển khai thiếu minh bạch : Cái gì cũng phải hỏi ý kiến hay sao ? Bây giờ chỉ có chuyện trồng cây mà phải hỏi ý kiến dân ! Tôi hỏi thế đất nước bây giờ động đến cái gìđi hỏi dân thì bầu ra chính quyền làm gì... (VietNamNet, ngày 17/3)
Vô tình, phát ngôn ấn tượng này bị phản ứng dữ dội. Vậy vì sao chính quyền luôn nói : "Vì dân" ? Luôn nói dân biết dân bàn dân làm dân kiểm tra ? Một chủ trương, nếu không được lòng dân, chủ trương đó có thể thành công hay không ? Vụ việc phải dừng lại, là một minh chứng cụ thể cho việc không cần hỏi ý kiến dân !
Nhưng đỉnh cao của phát ngôn ấn tượng năm 2015 có lẽ thuộc về Phó Giáo sư Tiến sĩ N.H.T (Học viện Hành chính Quốc gia) : Đã là kinh tế thị trường thì chạy là tất nhiên, luật hóa cho tiền chạy nổi lên, dễ kiểm soát. trên thế giới ai cũng chạy chức chạy quyền, kể cả Obama (Tuần Việt Nam, ngày 28/1).
Trong một bài viết cũng trên Tuần Việt Nam sau đó, người viết bài cho rằng ông đã đánh tráo khái niệm, khi so sánh hiện tượng "chạy". Bởi nước Mỹ là thể chế tam quyền phân lập. Sự vận động hành lang của các ứng cử viên đều tuân thủ nguyên tắc minh bạch. Nó khác hoàn toàn với kiểu "chạy’ trong bóng đêm chỉ giữa hai cá nhân, kẻ mua người bán ở xã hội ta.
Còn một khi đã "luật hóa" chuyện chạy kiểu Việt Nam, cũng tức là thừa nhận sự thất bại của công cuộc phòng, chống tham nhũng. Tác giả Đinh Duy Hòa, trong một bài viết trênVietNamNet, ngày 26/1, đã có lời bình hóm hỉnh : Bộ máy nhà nước chắc sẽ bao gồm những người nhiều tiền kinh khủng, từ các bộ toàn những người tiền trên thiên hạ mới đấu thầu trúng được, rồi chủ tịch các tỉnh, huyện. Hệ thống hành chính chắc phải đổi lại là hệ thống hành chính tiền tệ cho chính xác.
Thế mới biết, tư duy con người- một khi nhầm lẫn- sẽ kéo theo biết bao hệ lụy cho cộng đồng.
Hài hước nhất và hồn nhiên nhất có lẽ là phát ngôn ấn tượng của Đại biểu quốc hội L.N khi kiến nghị đổi mới cách trừng phạt những kẻ tham nhũng : Không cần bắn, chỉ cần nhốt trong lồng đẹp để ở nhà vợ nuôi cho đủ… xấu hổ.Ông L.N hy vọng sự xấu hổ sẽ khiến kẻ tham nhũng không dám tham nhũng. Hệt chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa, khi mà xã hội còn có cô Tiên, ông Bụt, cô Tấm, Hoàng tử. Và cô Tiên, ông Bụt, cô Tấm, Hoàng tử bao giờ cũng chiến thắng cái Ác, cái Tham. Nhưng người viết bài chỉ sợ rằng, nếu là lồng tre, thì nước Việt này sẽ hết sạch cả… tre.
Hồn nhiên không kém khi phát biểu trước nghị trường về những tồn tại và sự tụt hậu của ngành du lịch, thua kém cả Lào và Campuchia, khiến du khách một đi không trở lại là ông H. T.A - Bộ trưởng Văn hóa, thể thao và du lịch : Trách nhiệm của tôi là sẽ truyền đạt lại cho Bộ trưởng kế tiếp, chứ hết thời gian rồi thì làm sao bây giờ ? Tại sao khi còn thời gian, có bao giờ ông Bộ trưởng tự hỏi mình vì sao bất lực ? Lấy cớ hết thời gian đương chức để "chuyền bóng trách nhiệm" vào "lưới" người kế cận, Bộ trưởng Văn hóa, thể thao và du lịch tự ghi điểm cho mình, một cầu thủ… yếu.
Và khi được phóng viên chất vấn (Lao động, ngày 18/11) ông còn hồn nhiên hơn : Tôi trả lời chất vấn như vậy là để giảm stress cho các đại biểu Quốc hội.
Thực ra, Bộ trưởng khiến cả xã hội bị stress thì đúng hơn !
Tự nhiên chủ nghĩa nhất, có lẽ là phát ngôn ấn tượng của Tiến sĩ N. V. T - Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội khi đề cập về việc tăng giá dịch vụ y tế cũng như bảo hiểm y tế trong năm 2016 : Giá bảo hiểm y tế dù tăng cũng chỉ bằng2-3 bữa nhậu (VTV, ngày 19/12) khiến dư luận xã hội bàn ồn ào, còn người dân, nhất là bệnh nhân thì muốn … mếu.
Ông so sánh về giá trị đồng tiền, có thể đúng ! Nhưng sự so sánh khá vô tình và dửng dưng đó bộc lộ tâm lý thường ăn nhậu "zô zô zô, % phần %", mới nghĩ được như thế. Nhất lại là khi để bảo vệ cho việc tăng giá dịch vụ y tế, tăng mức bảo hiểm y tế, mà số đông người dân thì khó có thể thường xuyên ăn nhậu, nếu chỉ bằng thu nhập lao động của mình. Có gì đó thật xa lạ giữa phát ngôn một quan chức Quốc hội với đời sống số đông nhân dân. Thật đáng chê !
Từ xa xưa, ông cha ta có một tổng kết thật sâu sắc và sáng suốt : Uốn lưỡi 7 lần trước khi nói.
Nhưng đọc tất cả các phát ngôn ấn tượng nói trên, dù có bằng cấp đầy mình, các bác vẫn là những học trò... kém của tiền nhân.
Các loại "kỳ án" và câu hỏi về cải cách tư pháp
Năm 2015 có thể coi là năm của ngành tư pháp- với ý nghĩa xuất hiện rất nhiều loại "kỳ án" gây chấn động và bàng hoàng dư luận xã hội, làm tốn bao phím mực của báo chí, các trang mạng.
Không coi là "kỳ án" sao được ? Khi năm này, chỉ trong vòng hơn một tháng, 03 vụ án giết người đặc biệt nghiêm trọng đã xảy ra tại Bình Phước, Nghệ An và Yên Bái, hung thủ giết nhiều người trong một gia đình. Nghiêm trọng hơn nữa, có những lý do giết người lại bắt nguồn chỉ từ những mâu thuẫn lặt vặt trong đời sống cộng đồng, thậm chí giữa những người có quan hệ họ hàng.
Cái Ác của các vụ "kỳ án" đều mang gương mặt rất trẻ, nhưng rất tối tăm, hoang dại trong nhận thức, tâm địa và hành động.
Không coi là "kỳ án" sao được, khi tiếp theo "người tù thế kỷ" Nguyễn Thanh Chấn bị tù oan suốt 10 năm, được thả cách đây 02 năm, nay lại đến "người tù thế kỷ" Huỳnh Văn Nén bị tù oan suốt 17 năm, gần gấp đôi thời gian- cũng với cái án "giết người"… oan nghiệt.
Cho dù cách nhau xa lắc xa lơ về quê quán, khác nhau về độ phức tạp của vụ án lẫn diễn biến, khác nhau về nhân thân, nhưng vụ án oan của họ giống nhau ở điểm chung rất đáng buồn và hổ thẹn : Được điều tra với sự bức cung, dựng hiện trường, với những sai phạm nghiêm trọng luật tố tụng hình sự, từ công tác điều tra, đến xét xử của tòa án các cấp.
Bất ngờ nhất, cả hai vụ án được "phá" và sáng tỏ đều do những người… ruột thịt, những người thân không chút nghiệp vụ điều tra hình sự. Vừa buồn vừa hài hước.
Không gọi là "kỳ án" sao được, cho đến tận thời điểm này, năm cũ 2015 sắp khép lại, dư luận xã hội còn bàn loạn về vụ việc khởi đầu chỉ là quan hệ dân sự, cuối cùng thành vụ án hình sự. Dân gian gọi là "vụ án con ruồi".
Nhân vật trung tâm- Võ Văn Minh- với lòng tham của một kẻ ít học, ít hiểu biết, bị khép tội "cưỡng đoạt tài sản", phải nhận 07 năm tù giam, do đòi đền bù 500 triệu đồng/ một con ruồi chết trong chai nước ngọt- sản phẩm của Công ty Tân Hiệp Phát mà anh ta mua. Cho dù, đến thời điểm này, vẫn chưa ai kết luận nổi, con ruồi … từ đâu đến !
Võ Văn Minh tham thì thâm đã đành, nhưng cái cung cách "cài bẫy" khách hàng có hệ thống, coi thượng đế chả là cái đinh gỉ gì của Tân Hiệp Phát rút cục gậy ông đập lưng ông. Người viết bài tâm đắc với một comment trên trạng mạng xã hội : Võ Văn Minh bị án tù 07 năm, còn Tân Hiệp Phát thì án "chung thân". Cái án "chung thân" không tuyên bố mới thật kinh hoàng, khi Tân Hiệp Phát có nguy cơ bị xã hội quay lưng lại, và tẩy chay sản phẩm.
Người viết bài không muốn đi sâu vào các "kỳ án" giết người cướp của, giết người vì mâu thuẫn. Bởi đã có những chuyên gia các lĩnh vực am hiểu về tâm lý học, tội phạm học, pháp luật, phân tích kỹ hiện tượng rối loạn các giá trị sống, sự chuyển hóa nhân cách trong một thời cuộc đang có nhiều biến thiên. Nhưng rất chú ý tới vụ việc xét xử lưu động các "kỳ án" giết người. Thậm chí, trong ngành tư pháp, đây còn được coi là tiêu chí… thi đua ?
Mặc dù, với mục đích mang tính cảnh báo, giáo dục và răn đe cộng đồng nói chung, nhưng việc xét xử lưu động các thảm án vào bối cảnh xã hội đang trên hành trình hội nhập và phát triển, phản chiếu một tư duy tư pháp cũ kỹ, và rất lỗi thời.
Những người hiếu kỳ- khán giả của vụ xét xử lưu động, đã từng thốt lên rất vô cảm, vô tình, trong bài báo "Đi xem... bắn người" (VietNamNet, ngày 18/12) : Tôi tưởng xử xong sẽ bắnthế là đi xem, sẽ tự răn mình điều gì sau những vụ án xét xử lưu động kiểu này, thậm chí có cả những trẻ vị thành niên ? Hay họ sẽ học được những kỹ năng và tâm lý tội ác, qua sự mô tả của các bị cáo tại các phiên tòa lưu động, trên cái nền học hành non nớt, tâm lý biến động giữa bối cảnh xã hội có không ít bất an vì tiêu cực ?
viet5
Ông Huỳnh Văn Nén (áo kẻ) trong vòng tay người thân sau khi được tại ngoạ. Ảnh : VietNamNet
Còn ở vụ án oan Huỳnh Văn Nén, mặc dù gây ra những oan sai nghiêm trọng, dẫn đến hệ lụy cho gia đình họ bị tổn thất vô cùng lớn cả về vật chất lẫn tinh thần, nhưng đến thời điểm này, theo các chuyên gia luật học, khó xử hình sự người gây oan sai cho ông Huỳnh Văn Nén. Bởi vụ án oan này đã quá 15 năm, hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (theo Bộ Luật Hình sự 1999), nên rất có thể những người gây oan sai bỗng thành... vô tội. Còn tòa án lương tâm có... xử họ không, thì không rõ !
Rất có thể, cũng giống như án oan Nguyễn Thanh Chấn, sẽ có một buổi cơ quan chức năng tổ chức xin lỗi, Nhà nước đền bù cho một khoản tiền. Còn họ- những người trong cuộc đã gây ra những tổn thất đau thương cho ông Huỳnh Văn Nén và gia đình ông, chỉ cần "rút kinh nghiệm, kiểm điểm nghiêm khắc". Xong om !
Thế nhưng xã hội có quyền đặt ra rất nhiều câu hỏi cho các cơ quan chức năng có trách nhiệm xung quanh vụ này :
Vì sao, hàng loạt chứng cứ có dấu hiệu ngụy tạo bị lật tẩy nhưng cơ quan tố tụng vẫn dựa vào đó để kết tội ông Huỳnh Văn Nén và đại gia đình bên vợ của ông (VietNamNet, ngày 11/12).
Vì sao, từ trong tù, đơn tố cáo của Nguyễn Phúc Thành- một phạm nhân đang thụ án trong tù, chỉ đích danh 02 kẻ phạm tội giết hại bà Lê Thị Bông (chứ không phải là Huỳnh Văn Nén) được giao cho điều tra viên Cao Văn Hùng xác minh, nhưng bị lãng quên rất khó hiểu ?
Vì sao cơ quan chức năng quá tự tin vào năng lực nghiệp vụ của mình, xem thường và phớt lờ tất cả những chứng cứ quan trọng, sau này, lại chính là căn cứ xác nhận Huỳnh Văn Nén không phải kẻ giết người ?
Và ngay cả vụ án Tân Hiệp Phát mới đây, chỉ có một… con ruồi chết thôi, cũng đã khiến cả xã hội ồn ào. Chính các luật sư vạch rõ- quá trình điều tra vụ án cũng vi phạm nghiêm trọng Luật Tố tụng hình sự : Tại sao luật sư và người đại diện theo ủy quyền của công ty Tân Hiệp Phát lại được tham gia quá trình hỏi cung bị cáo ? Việc làm trên có dấu hiệu thông cung, làm lộ bí mật điều tra, lộ hướng xét xử. Vậy hồ sơ vụ án, trong đó có lời khai của các bên, có còn giá trị ? (VietNamNet, ngày 21/12)
Rõ ràng, cải cách tư pháp là đòi hỏi cấp thiết của xã hội, và của thời cuộc, nhất là nay mai đất nước gia nhập TPP. Đến bao giờ, ngành tư pháp (trong đó có tòa án) thực sự xứng với vị thế, vai trò thương tôn pháp luật của mình ?
U 40 và thì… tương lai
Và năm 2015 này, có một hiện tượng nổi bật về công tác nhân sự khiến cả xã hội chú ý, ồn ào.
Đó là tiếp sau những vụ việc một người làm quan cả họ được nhờ ở một số địa phương, là hiện tượng một loạt các nhân sự trẻ U40 trở thành những cán bộ lãnh đạo cấp cao : Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy, Giám đốc Sở…tại các địa phương.
Hàng trăm bài viết và bàn luận đa chiều. Nơi này hoài nghi nơi kia tin tưởng.
Hiện tượng đó vốn là bình thường ở các quốc gia văn minh, phát triển.
Có thể thấy ở các quốc gia như Mỹ, Hàn Quốc, Singapore, Canada…, người ta gọi đó là hiện tượng "gia đình chính trị", và rất được xã hội của họ ngưỡng mộ, nể phục.
Thì ở Việt Nam, hiện tượng hậu duệ (vốn được xếp hạng nhất trong thành ngữ mới hậu duệ, tiền tệquan hệ, trí tuệ) kế nghiệp được dư luận xã hội, kể cả các Đại biểu quốc hội gọi thẳng là "gia đình trị", và gây nên những bàn luận. Bởi trước đó, đã từng có những nhân sự kiểu này nhưng đã không tạo ra được "ấn tượng" gì. Dù về danh chính ngôn thuận, rất... đúng quy trình.
Trả lời VietNamNet, ngày 27/10 Nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông (cũ) Mai Liêm Trực thẳng thắn : Nói gì thì nói, chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào thực tế là không ít những vị lãnh đạo cả cấp trung ương và địa phương còn lạm dụng quyền lực để xếp cho con chỗ an nhàn. Thực chất, đấy cũng là một hình thức tham nhũng chính trị. Tại sao chuyện "con ông cháu cha" chúng ta nói mãi mà không xử lý được ? Có phải vì nó đã thành phong trào, ông này thấy ông kia làm được thì cũng tìm cách làm theo ? Bởi vậy dư luận mới ì xèo trên báo chí về hiện tượng quan chức cả huyện, cả tỉnh là họ hàng.
Như vậy, sự phản ứng khác nhau của dư luận giữa các quốc gia nằm ở sự khác biệt của hai nền quản trị : Đó là cơ chế quản lý công khai- minh bạch, mới có được sự tuyển chọn công bằng ; và ngược lại…
Nhưng bình tâm xem xét, đặt trong bối cảnh đặc thù của xã hội Việt Nam, thì những U40 này họ có những ưu thế riêng : Có học vấn cao, được đào tạo bài bản từ các quốc gia tiên tiến, hoàn cảnh vị thế gia đình thuận lợi, không phải nhân sự "bình dân" nào, dù giỏi giang cũng có được... thảm nhung trải trước mặt.
Có điều, con đường đó dù là thảm nhung nhưng cũng đầy "gai của hoa hồng". Bởi chính trị, và làm lãnh đạo là con đường vốn không mượt mà như cái danh của nó. Ở đó chỉ tài năng cùng nhân cách thực sự, mới có thể khiến người dân ngưỡng mộ và kính trọng. Chỉ khi đó, quyền lực mới thực sự gắn với quyền uy. Và cũng bởi trong thế giới phẳng và đa chiều ngày nay, bất cứ "cái ghế" nào, cũng đều phải chấp nhận sự sàng lọc năng lực, nhân cách một cách sòng phẳng trong thực tiễn. Nếu không, dù quyền lực (cái ghế) vẫn còn nhưng quyền uy (uy tín) đã … mất.
Năng lực và nhân cách người lãnh đạo mà người dân đòi hỏi đó là gì nếu không phải là đặt lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia lên trên hết ? Và hành xử sòng phẳng đó là gì, nếu không phải như ông Mai Liêm Trực đã rất thẳng thắn :
Lãnh đạo phải mạnh, sạch và có tầm nhìn. Thứ nhất, mạnh về năng lực, về vị thế, uy tín xã hội. Thứ hai, phải sạch, không dính vào tham nhũng. Thứ ba, phải có tầm nhìn mới dẫn dắt được chứ chỉ có kiến thức chưa đủ. Tầm nhìn và bản lĩnh chỉ có thể được chứng minh qua thực tiễn, không chỉ qua phát biểu hay qua quá trình đào tạo.
Mặt khác, cũng theo ông Mai Liêm Trực, phải có sự sàng lọc : Khi chúng ta đột phá trong cơ chế bổ nhiệm nhanh, vượt cấp thì quy trình đánh giá kết quả cũng phải sòng phẳng, minh bạch. Nếu đã có cơ chế lên nhanh như vậy thì cũng phải có cơ chế xuống nhanh. Bởi lâu nay có hiện tượng lên thì nhanh nhưng xuống lại rất khó khăn. Không thể tránh khỏi sai lầm trong việc chọn người nhưng nếu không làm được việc thì phải xuống chứ đừng ngồi đó mãi. Có như vậy, cán bộ mới trưởng thành, công tác tuyển chọn, sử dụng cán bộ mới lành mạnh.
Chính vì vậy, với những nhân sự lãnh đạo U 40, con đường phía trước quả là áp lực, thách thức lớn với họ, buộc họ chọn lựa thái độ sống : Vì lợi ích quốc gia hay vì cái gì ?
Chợt nhớ đến câu chuyện về gia tộc của Tổng thống Bush (Mỹ). Gia tộc này đã tạo nên hai đời tổng thống, thứ 41 và 43, cũng như đã sản sinh ra hai vị thống đốc bang và nhiều chính trị gia đầy quyền lực khác. Người viết tiểu sử nhà Bush- Peter Schweizer cho biết : Gia tộc này đã thiết lập 03 "lời sấm truyền" để mọi người trong gia tộc thừa hưởng và phát huy. Đó là : Tự thân ; Tôi không thực sự giàu có ; Tôi chạy đua để phụng sự đất nước mình (Dân trí, ngày 13/11).
Họ - những lãnh đạo U.40 của nước Việt - liệu có "chạy đua để phụng sự đất nước mình", có mở ra nổi trang lịch sử mới của đất nước, được đánh dấu từ năm mới 2016 này không ?
Điều đó, chỉ có thì… tương lai mới trả lời !
Kỳ Duyên
Nguồn : VietnamNet, TuanVietnam.

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

Đất nước muốn phát triển con người phải tự do.

Để đất nước phát triển, con người cần không gian tự do sáng tạo. Do đó, trong một xã hội dân chủ, về nguyên tắc không gian tự do cần tương đối rộng và ngược lại những hạn chế quyền tự do phải tương đối hẹp.
Quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập 1945…
Ngay trong những ngày đầu của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, cụ thể ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
Hồ Chí Minh cũng đã thể hiện rõ tư tưởng bảo đảm quyền tự do của nhân dân trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. Ngay từ những câu đầu tiên, Người đã trích dẫn những “lời bất hủ” (nguyên văn chữ dùng của Bác) trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ do Thomas Jefferson soạn thảo: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Người còn nhắc lại Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 như một sự lên án đanh thép tội ác của thực dân Pháp đã “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta… tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào… thi hành những luật pháp dã man”.
Tại sao Người lại nhấn mạnh trong Tuyên ngôn độc lập một tư tưởng từ tuyên ngôn độc lập và dân quyền của các quốc gia tư bản? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời ngay trong Tuyên ngôn độc lập 1945: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Hồ Chí Minh đã phân biệt rạch ròi giữa chế độ chính trị của một quốc gia và chân lý, giá trị phổ quát của nhân loại.
Thật vậy, các quốc gia dù khác nhau về chế độ chính trị đều phải hướng tới mục tiêu bảo vệ các quyền và tự do căn bản và đem lại cuộc sống hạnh phúc cho người dân.
Ba năm sau Tuyên ngôn độc lập của VNDCCH và cũng là ba năm sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Đại Hội đồng Liên hiệp quốc, thông qua bản Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người 1948 (Universal Declaration of Human Rights), cũng đã nhấn mạnh ngay từ đầu: “Sự công nhận nhân phẩm của mọi người trên toàn thế giới và các quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ chính là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới”.
Trải qua bao xương máu của nhân loại, đặc biệt từ đau thương của Chiến tranh thế giới thứ hai, Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người đúc kết: “Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được coi là ước vọng cao nhất của con người”.
Đến Hiến pháp 1946…
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam đã khẳng định ngay trong lời nói đầu ba nguyên tắc căn bản của Hiến pháp là: “Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; Đảm bảo các quyền tự do dân chủ; Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”. Suy cho cùng, đây cũng chính là nguyên tắc “nhà nước của dân, do dân, vì dân” do Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln đúc kết (“Government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the Earth”).
Lời nói đầu Hiến pháp 1946 cũng nhắc nhở chúng ta rằng “chủ quyền cho đất nước” và “tự do cho nhân dân” luôn song hành. Điều đó thể hiện triết lý sứ mệnh của một nhà nước có chủ quyền không gì khác nhằm “đảm bảo các quyền tự do dân chủ” cho nhân dân. Tiếp đó, Chương II đã long trọng tuyên bố sự công nhận và cam kết bảo đảm các quyền con người phổ quát. Nhìn một cách tổng thể, Hiến pháp 1946 đã thể hiện những tư tưởng chính trị-pháp lý tiến bộ và hoàn toàn có thể là điểm sáng so với các hiến pháp cùng thời trên thế giới.
Hiến pháp, quyền con người, nhân quyền, độc lập, quốc khánh
Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam. Ảnh: An Đăng - TTXVN
…và Hiến pháp 2013
Hiến pháp hiện hành tiếp tục khẳng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” (khoản 1 Điều 2) và “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” (Điều 3).
Như vậy, Hiến pháp 2013 đã thể hiện triết lý quyền con người không phải do nhà nước ban phát mà các quyền do “tạo hóa” sinh ra gắn với mỗi người. Theo đó, quyền con người phải được Nhà nước “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm”.
Trong số các quyền con người được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ, chỉ có một số ít quyền tuyệt đối, tức không bị giới hạn trong bất kỳ trường hợp nào. Quyền được tôn trọng về nhân phẩm, trong đó bao gồm quyền không bị làm nô lệ, quyền không bị tra tấn và đối xử một cách tàn ác, được phần đông thừa nhận mang tính tuyệt đối, không thể bị hạn chế.
Ngoài những quyền tuyệt đối, các quyền còn lại đều có thể bị giới hạn ở những mức độ khác nhau. Sự giới hạn quyền là hiện tượng bình thường và phổ biến ở mọi quốc gia.
Tuy vậy, việc hạn chế này không được tùy tiện và phải tuân theo những nguyên tắc. Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người 1948, văn bản được coi là kết tinh của tinh hoa và chuẩn mực toàn cầu, đã quy định nguyên tắc giới hạn quyền con người này tại Điều 29: “Trong việc thực thi các quyền và tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ”.
Tiếp thu tư tưởng này, Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2, Điều 14). Đây là bước tiến lớn trong tư duy lập hiến ở Việt Nam.
Nguyên tắc này đảm bảo một không gian hợp lý để công dân “tự do” thực hiện quyền của mình, miễn là không lấn vào những phần bị nhà nước “hạn chế”. Thời đại ngày nay, mọi quốc gia giống nhau ở chỗ đều công nhận các quyền và tự do cơ bản, chỉ khác nhau ở phạm vi các quyền bị giới hạn và phương pháp đặt ra vùng bị giới hạn đó.
Nhằm thực hiện khoản 2 Điều 14 Hiến pháp một cách đúng đắn,trước hết, việc nhà nước giới hạn các quyền công dân phảiđược quy định bằng pháp luật rõ ràng và minh bạch và có lý do chính đáng – tức nhằm bảo vệ quyền của người khác và lợi ích chung của xã hội. Đối với những quyền mà việc thực hiện nó không làm ảnh hưởng đến người khác và lợi ích chung của xã hội, các nhà nước không có lý do chính đáng để hạn chế. Chẳng hạn, nhà nước không cần can thiệp vào những việc như người dân treo tranh gì trong nhà, nhưng có quyền hạn chế số tầng của ngôi nhà nhằm đảm bảo mỹ quan đô thị hay an toàn xây dựng.
Thứ hai, việc hạn chế quyền phải phù hợp với mục tiêu. Chẳng hạn, nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông, nhà nước có thể phạt tiền người vi phạm luật chứ không thể cấm người dân sở hữu xe. Ngoài ra, việc hạn chế quyền cần vừa đủ nhằm đạt được mục tiêu. Ví dụ, nhằm răn đe người vượt đèn đỏ, việc phạt tiền nghiêm khắc là đủ mà không cần phải phạt tù; nhưng đối với người uống rượu lái xe, phạt tù ngắn hạn là phù hợp.
Thứ ba, lợi ích của việc hạn chế quyền phải lớn hơn thiệt hại do việc hạn chế đó gây ra. Có thể lấy bài học về quyền tự do kinh doanh làm thí dụ. Thời bao cấp, quyền tự do kinh doanh bị hạn chế khá lớn, đã kìm hãm nền kinh tế. Theo đó người dân chỉ có thể tham gia kinh doanh tập thể của nhà nước mà không thể thành lập doanh nghiệp tư nhân. Điều này chứng minh việc hạn chế quyền không hợp lý, trái với quy luật phát triển sẽ không đem lại lợi ích mong đợi.
Kể từ đổi mới kinh tế, người dân được mở doanh nghiệp tư. Về tổng thể, khi tự do của người dân được giải phóng, của cải xã hội được tạo ra nhiều hơn và có chất lượng tốt hơn thời tập trung quan liêu bao cấp.
Tóm lại, mỗi nhà nước muốn hạn chế quyền công dân cần tính đến tính chính đáng, tính phù hợp và tính ích lợi xã hội. Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp phải là kim chỉ nam cho việc xây dựng các luật liên quan mật thiết đến quyền và tự do cá nhân như Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tiếp cận thông tin, Luật lập hội, Luật biểu tình, Luật tôn giáo.
Quyền con người và nhà nước kiến tạo phát triển
Để phát triển, quốc gia cần phải phát huy tiềm lực con người. Muốn vậy, con người cần không gian tự do sáng tạo. Do đó, trong một xã hội dân chủ, về nguyên tắc không gian tự do cần tương đối rộng và ngược lại những hạn chế quyền tự do phải tương đối hẹp.
Tất nhiên, mối tương quan giữa tự do-hạn chế này khác nhau giữa các quốc gia và cũng khác nhau giữa các quyền. Nền pháp quyền hiện đại luôn đòi hỏi một “chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” (Lời nói đầu Hiến pháp 1946 nêu trên) phải viện dẫn lý do chính đáng và tính toán những lợi ích xã hội khi muốn hạn chế tự do của người dân. Thực hiện đúng đắn Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp là một chỉ số của nhà nước kiến tạo phát triển.
Bùi Tiến Đạt
(Giảng viên Khoa Luật-ĐHQGHN, Nghiên cứu sinh Đại học Macquarie, Australia)

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2015

HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN LÀ GÌ ?.

Hạnh phúc là được sống trong một xã hội lành mạnh, không tham nhũng, quản lý công khai, minh bạch gắn với những thang giá trị làm người... Nhưng đất nước cứ lận đận, có nguy cơ không ra khỏi bẫy thu nhập trung bình…

Trong tuần này, có một sự kiện lớn và hướng tới có một sự kiện lớn quan trọng không kém, thức tỉnh trong lòng người dân Việt biết bao suy ngẫm. Về quá khứ và hiện tại. Về hiện tại và tương lai.
Có cả sự bồi hồi và day dứt. Tưởng nhớ và âu lo. Khẳng định và đặt câu hỏi.
Đất nước- hai chữ thiêng liêng
Đó là kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Có thể thế thệ trẻ Việt Nam ngày nay sinh ra trong hòa bình chưa cảm nhận hết sự thiêng liêng của bốn chữ độc lập - tự do. Nhưng các thế hệ cha anh, trải qua thân phận nô lệ, của nghìn năm Bắc thuộc, của một thời cuộc đầy giông bão chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ quá thấm thía nỗi đau này. Và vì thế, bao thế hệ người Việt Lớp cha trước lớp con sau / Đã thành đồng chí chung câu quân hành đã phải dấn thân, hy sinh xương máu của mình để đất nước có chủ quyền, dân tộc có độc lập tự do.
Độc lập tự do, là… bốn chữ ngọt ngào, là hạnh phúc của một dân tộc và của mỗi người dân khi đó.
hanhphuc2
Đất nước - hai chữ thiêng liêng
Không phải tình cờ mà chủ đề về 70 năm Cách mạng tháng Tám, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại có cuộc tọa đàm trực tuyến Cái giá phải trả để được sống trong độc lập, tự do. Cái giá đó rất khắc nghiệt, không chỉ là xương máu của hàng triệu người lính, người dân Việt Nam đã đổ xuống, mà còn bởi một đặc thù như số phận dân tộc. Theo Giáo sư Vũ Minh Giang (Đâi học Quốc gia Hà Nội) : Có rất nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu có thể do vị trí địa-chính trị, giao thoa văn hóa hoặc cũng có thể do ta sinh cơ lập địa ở cạnh một đế chế nhiều tham vọng chăng, mà trong suốt chiều dài lịch sử không mấy khi chúng ta được sống trong bình yên.
Một câu hỏi mang tính khẳng định, nhưng trước đó, cả lịch sử dân tộc dài hàng nghìn năm đã giãi bày, bằng máu và nước mắt.
Số phận khắc nghiệt đến mức, Giáo sư Trần Ngọc Vương (Đâi học Quốc gia Hà Nội) cũng trong cuộc tọa đàm, đã nhân xét thẳng thắn : Cho đến hôm nay, vấn đề độc lập dân tộc vẫn còn phải tiếp tục, nghĩa là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và gìn giữ độc lập vẫn nên triển khai một cách quyết liệt. Bởi vì sẽ còn rất gian nan. Nếu chúng ta quên đi đều đó, vẫn cứ nghĩ rằng chúng ta đã có độc lập rồi thì thật là tai hoạ.
Giành lại chủ quyền, độc lập tự do dân tộc đã khó. Giữ gìn, phát triển và hội nhập với thước đo văn hóa của nhân loại văn minh còn khó hơn.
Đó cũng chính là lý do, 11 năm sau thống nhất đất nước, là những thăng trầm, gieo neo của cả dân tộc, bởi những khiếm khuyết của cơ chế quan liêu bao cấp, dẫn đến có không ít những sai lầm trong phát triển khiến đời sống xã hội cực khổ. Để cuối cùng, một quyết định mang tính đột phá ra đời- sau những day dứt, dằn vặt, tranh cãi - Đổi mới ! Để từ cơ chế quản lý, từ quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Câu khẩu hiệu "Đổi mới hay là chết" thật linh nghiệm với những năm tháng gian khổ khó quên. Với một thời cuộc đầy mưa nắng ấm lạnh của lịch sử.
Để từ đó, diện mạo cả một xã hội thay đổi. Từ cơ chế đến chất lượng cuộc sống vật chất cả xã hội cho tới tận mỗi gia đình. Từ sự đổi mới chung đến sự đổi mới riêng các ngành, các lĩnh vực. Từ kinh tế đến giáo dục, văn hóa, y tế… Sự đổi mới về quan niệm còn dẫn đến sự đổi mới những thang bậc giá trị.
Nhưng ai là người làm nên Đổi mới ?
Cố Giáo sư kinh tế Đặng Phong, tác giả của hàng chục đầu sách nghiên cứu lịch sử kinh tế Việt Nam rất nổi tiếng, khi còn sống, trong cuộc trò chuyện với người viết bài này, đã có một nhận xét rất đáng chú ý, có thể nói khá bản chất về công cuộc đổi mới : Sự đổi mới diễn ra trong xã hội Việt Nam, không phải là công lao của một cá nhân, một cha đẻ, hay lãnh tụ đổi mới nào. Mà mỗi người lãnh đạo Việt Nam có một vai trò khác nhau. Nói cách khác, chính trào lưu đổi mới này mới là "anh hùng" tạo nên thời thế- thời của nền kinh tế mới mang cái tên xưa kia người ta rất dị ứng- kinh tế thị trường (Tuần Việt Nam, ngày 06/9/2010).
Đó là cố Giáo sư Đặng Phong nói về bộ máy lãnh đạo, có trách nhiệm lớn lao gánh vác sứ mệnh dân tộc vào thời khắc quyết định sinh tử nhất.
hanhphuc3
Đất nước giàu mạnh là niềm mong mỏi của mọi công dân. Ảnh minh họa, nguồn : Zing.vn
Còn trong thực tiễn cuộc đời, nơi mọi lý thuyết đều màu xám, chỉ cây đời mãi xanh tươi, vẫn có một con người, một quan chức chính quyền địa phương, nguyên là một người nông dân đã rất can đảm thay đổi, từ tư duy, nhận thức đến hành động, và cuối cùng, góp phần tạo ra sự chuyển biến thần kỳ trong nông nghiệp, một trong những ngành cốt tử nhất của đất nước. Trước hết là mảnh đất Vĩnh Phú trung du của ông, rồi lan nhanh sang các địa phương khác.
Như một làn gió lạ, rồi chuyển thành luồng gió mát lành. Cho đồng lúa nở hoa. Và gương mặt người nông dân nở nụ cười, dù dấu vết khắc khổ vẫn hằn sâu theo năm tháng.
Đó là Kim Ngọc- Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú (cũ), người mà Ts Tô Văn Trường, trong bài viết trên Tuần Việt Nam, ngày 19/8, đã gọi ông là cái Kim bằng Ngọc, dám châm thẳng vào 'huyệt' cơ chế bảo thủ, tạo nên một "hiện tượng"- hiện tượng Kim Ngọc !
Đã có biết bao bài báo, thậm chí cả một bộ phim truyền hình dài nhiều tập- Bí thư Tỉnh ủy- để nói về ông. Cũng là để vinh danh ông, một quan chức nông dân đi mở con đường "khoán hộ".
Có lẽ ở ông, có cả ba điều mà người đời xưa cho chí đời nay đều ngưỡng mộ khi nói về một nhân cách :
Có trí, để nhìn ra những vấn đề mà nhiều người đương thời, vì nhiều lý do đã không thể nhìn ra.
Có dũng, để dám biến nhận thức mới đó thành hành động thực tiễn.
Có gan, để dám làm dám chịu trách nhiệm. Và có đủ niềm tin vào hành động thực tiễn của mình.
Như một quy luật xã hội , những người có tầm nhìn, đi trước thời đại, bao giờ cũng phải chịu hy sinh.
Nhưng Trời không phụ ông. Và người viết tin rằng, Đời rồi sẽ không thể phụ ông.
Còn trong con mắt những người nông dân chân đất, ông vẫn là người anh hùng áo vải cờ đào dựng nên "khoán hộ" no ấm.
Hạnh phúc - không duy nhất và bất biến
Ba mươi năm Đổi mới, với những thành tựu phát triển không thể phủ nhận, về diện mạo xã hội , chất lượng vật chất trong cuộc sống mỗi gia đình. Vậy nhưng trước những thách thức của thời cuộc- hội nhập hiện đại, với những thang giá trị văn minh, Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ không thoát được "bẫy trung bình".
Đó là nhận xét của Giáo sư Kenichi Ohno - Viện Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản, người có 20 năm nghiên cứu Việt Nam. Cũng theo Giáo sư Kenichi Ohno có nhiều dấu hiệu để khẳng định điều đó. Thứ nhất, tăng trưởng GDP của Việt Nam chậm lại. Thứ hai, năng suất lao động kém. Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu ở Việt Nam chỉ mang tính hình thức. Thứ tư là Việt Nam đã bị trì trệ trong các bảng xếp hạng toàn cầu. Thứ năm là Việt Nam đã gặp các vấn đề nảy nảy sinh do tăng trưởng như ô nhiễm, tham nhũng, bong bóng bất động sản, chênh lệch giàu nghèo (Tuổi trẻ, ngày 15/4/2014).
Rõ ràng, ở thời cuộc nhân loại đang gấp gáp phát triển, Việt Nam vẫn đang … lận đận. Vì sao ?
Ở góc độ kinh tế, hành trình hội nhập khiến nền kinh tế của bất cứ quốc gia nào cũng phải tạo nên được nội lực mạnh mẽ của chính mình. Quá trình tự thân vận động đó, tạo nên sức phát triển, và tạo ra khả năng hội nhập thế giới hiện đại. Nhưng sự tự thân vận động của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào ba yếu tố mang tính quyết định : Thể chế kinh tế văn minh ; Môi trường kinh doanh công bằng, lành mạnh ; Và công nghệ mới.
Về hiện tượng, theo chuyên gia Phạm Chi Lan, rất đáng lo là năng lực cạnh tranh của Việt Nam cho đến nay vẫn còn thua xa các nước ASEAN 6. Đã 20 năm tham gia ASEAN nhưng Việt Nam vẫn còn nằm trong nhóm 04 nước lạc hậu hơn của ASEAN (gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar). Mặc dù, năm 2014, Thủ tướng chính phủ đã quyết định năm 2015 là "Năm Doanh nghiệp", nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, tăng năng lực cạnh tranh của kinh tế Việt Nam. Kèm đó, là mục tiêu "nhích" từng bước- năm 2014, môi trường kinh doanh sao cho ngang bằng với ASEAN 6. Năm 2015, phải cạnh tranh được với ASEAN 4 (04 nước tiên tiến nhất trong ASEAN). Bởi nếu không đua được với ASEAN 4 thì sao ra được biển lớn, đua được với các quốc gia mạnh như Mỹ, khối EU, v.v.
hanhphuc4
Nay, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam là gì ? Ảnh minh họa, nguồn : Zing.vn
Hiện tượng đó có những căn nguyên hạn chế sự phát triển của nền kinh tế- xã hội , nói rộng ra, của một quốc gia ? Chắc chắn là có.
Đó là về thể chế kinh tế. Mặc dù có những thay đổi- xóa bỏ cơ chế bao cấp, nhưng phải nói thẳng rằng, cơ chế quản trị khối các doanh nghiệp nhà nước, chiếm phần lớn đầu tư, tài sản vật lực quốc gia, thực chất vẫn là cơ chế xin- cho, nặng tính lợi ích nhóm, môi trường màu mỡ cho tham nhũng đục khoét, cho lối "đi đêm" với hoa hồng, lại quả, với thành ngữ được ưa chuộng ông rút chân giò, bà thò chai rượu.
Đến mức, cũng theo Infonet, trong xếp hạng về thể chế, Việt Nam xếp ở mức rất kém trong các chỉ số chi phí "bôi trơn" so với nhiều nước khác. Một điều tra cho thấy, trung bình cứ 01 đồng lợi nhuận doanh nghiệp phải mất 1,02 đồng cho "bôi trơn". Có nghĩa, nếu tham nhũng ở nước ta giảm đi 50% thì đã làm tăng được 50% lợi nhuận của doanh nghiệp. Số liệu điều tra của Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam cho thấy, so với 10 năm trước đây quy mô của doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ còn bằng… một nửa.
Một điều đáng lưu tâm, mới đây, Ngân hàng Bank of America vừa công bố, nợ công của Việt Nam đứng thứ 12 trong nhóm rủi ro cao nhất thế giới. Thế nhưng, mặc dù nợ công cao, các doanh nghiệp nhà nước vẫn xếp hàng xin chính phủ bảo lãnh các khoản vay thưng mại tới hàng tỷ USD, còn Bộ Tài chính đã ứng ra hơn 01 tỷ USD để trả nợ thay cho các doanh nghiệp vì thua lỗ, khó khăn. Đối tượng được trả nợ thay hầu hết là doanh nghiệp nhà nước triển khai dự án thua lỗ, như Tổng Công ty Cơ khí xây dựng, Tổng Công ty Giấy Việt Nam, Tổng Công ty xây dựng Công nghiệp Việt Nam, Tập đoàn Sông Đà, Tổng công ty xi măng Việt Nam (VietNamNet, ngày 06/6).
Nghĩa là toàn ông lớn, nhưng hiệu quả làm ăn rất… bé.
Thể chế kinh tế thiếu lành mạnh, tất yếu dẫn đến môi trường kinh doanh không công bằng, sòng phẳng. Mặc dù mới đây, theo Luật Đầu tư mới, bắt đầu từ tháng 7/2015, sẽ có tới 3.299 điều kiện kinh doanh vô lối (thực chất là những điều kiện gây khó dễ, đòi các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải chung chi, ăn chia….) sẽ được xóa bỏ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vươn lêntùy theo sức của mình.
Thế nhưng đến thời điểm tháng 6/2015, theo báo cáo của CIEM (Trung tâm thông tin tư liệu- Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương) vẫn còn tới 14 bộ, cơ quan ; 55 tỉnh chưa có kế hoạch này (Dân Việt, ngày 06/6). Đủ biết lợi ích đã khiến cho ngay cả các cơ quan, các ngành chức năng cứ dùng dằng kiểu em cứ hẹn nhưng em đừng làm nhé, ra sao.
Đã thế, cũng theo Infonet, ngày 10/8, trong các nước tham gia TPP, Việt Nam xếp ở hàng thấp nhất về trình độ công nghệ, dù đây là yếu tố vô cùng quan trọng, tạo ra những bước ngoặt quyết định về năng lực cạnh tranh, và thuộc về trách nhiệm vĩ mô của nhà nước. Trong thực tế, rất nhiều doanh nghiệp cho biết họ không thể tiếp cận được với những chính sách khuyến khích về công nghệ của nhà nước. Bởi vì chi phí để nhận được ưu đãi có khi lại còn… lớn hơn cả mức được ưu đãi.
Thực chất, toàn bộ những điều kiện mang tính chất quyết định tới sự phát triển nói trên, lại bị sự lũng đoạn của những hành vi tham nhũng. Đó mới là điều đáng nói.
Và như vậy, sự phát triển của Việt Nam không thể nhẹ nhàng… cất cánh, nếu như nước Việt không diệt trừ được tham nhũng, các nhóm lợi ích, thông qua cải cách thể chế kinh tế. Và cùng với những giải pháp cốt tử khác.
Chợt nhớ tới đất nước 70 năm trước đây, phải chống giặc ngoại xâm, giành chính quyền. Vậy mà, như nhận xét của Giáo sư Trần Ngọc Vương, một nhà nghiên cứu thì lịch sử cho thấy, có rất nhiều người trong chính phủ của nhóm Trần Trọng Kim, rồi Vua Bảo Đại đã ngả theo và họ dần trở thành những yếu nhân của chính quyền mới (Việt minh). Rõ ràng họ là những người biết đặt lợi ích của việc ra đời một nhà nước độc lập lên trên lợi ích cá nhân. Và như Vua Bảo Đại đã có tuyên ngôn nổi tiếng "Tôi thà làm công dân của một nước tự do còn hơn làm vua của một nước nô lệ".
Vậy mà 70 năm sau, đất nước đã yên bình, thì "giặc nội xâm" lại trở thành vật cản tinh vi và lớn nhất cho sự phát triển của đất nước ?
Hạnh phúc là khái niệm, là nội hàm mỗi đời người thường mơ ước
Nhưng hạnh phúc không có duy nhất và bất biến. Với mỗi con người đã vậy. Với cả dân tộc- càng vậy.
Xưa, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam là chủ quyền độc lập, dân tộc, là tự do, cơm no áo ấm.
Nay, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam là gì ? Nếu không phải là dân chủ, giàu mạnh, công bằng và văn minh. Hạnh phúc là được sống trong một xã hội lành mạnh, không tham nhũng, quản lý công khai, minh bạch gắn với những thang giá trị làm người, những thang giá trị văn hóa đích thực.
Nhưng đất nước cứ lận đận, có nguy cơ không ra khỏi bẫy thu nhập trung bình, thì hạnh phúc con người… có phát triển không ?
Kỳ Duyên 
Theo TuanVietnam, 22/08/2015

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2015

Việt-Mỹ:có những điều nằm ngoài sức tưởng tượng.

“Thương mại và kinh tế chính là động lực để quan hệ VN và Hoa Kỳ rộng mở, lan tỏa sang các lĩnh vực giáo dục, đầu tư, chuyển giao công nghệ…”  
‘Tổng Bí thư gây ấn tượng mạnh với chính giới Mỹ’Mùi củi cháy ở VN và những ‘kẻ điên rồ’ nước Mỹ'Mỹ rất muốn quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam'Tôi thực sự choáng trước dự thảo ‘sặc mùi Mỹ’ 
LTS: Nhân chuyến thăm chính thức của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đến Việt Nam (ngày 6-8/8), sau những chuỗi hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 20 năm Việt – Mỹ, Tuần Việt Nam ghi lại ý kiến, cảm xúc từ những người từng làm “nhịp cầu” cho 2 đất nước nằm bên 2 bờ Thái Bình Dương. 
Ông Trần Tuấn Anh, phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công thương, nguyên Tổng lãnh sự VN tại TP. San Francisco: “Thương mại và kinh tế chính là động lực cho quan hệ mở rộng…”
Chắc chắc rằng, 20 năm trước  dù có lạc quan đến bao nhiêu cũng không thể đánh giá đầy đủ được như kết quả hôm nay. 
Qua chuyến thăm Mỹ của TBT Nguyễn Phú Trọng,  mối quan hệ Việt – Mỹ đã khẳng định những nền tảng cơ bản và vô cùng quan trọng, đảm bảo cho sự phát triển của mối quan hệ đó. Sự có mặt của nhà lãnh đạo ĐCS VN với tổng thống quốc gia đối tác Hoa Kỳ ghi nhận và khẳng định tầm vóc quan trọng của mối quan hệ này, cũng như ghi nhận sự khác biệt và tôn trọng sự khác biệt, hướng vào mục tiêu chung.
Chúng ta đã đi được bước dài để đạt được  niềm tin chiến lược như lời khẳng định của các nhà lãnh đạo của 2 nhà nước. Hãy biến  niềm tin chiến lược đó thành những chương trình, kế hoạch cụ thể của mình, khai thác những cơ hội của quan hệ Việt – Mỹ. Đặc biệt trong bối cảnh khi việc gia nhập TPP đang đi vào bước nước rút.
Chúng ta phải hiểu thực chất TPP không chỉ đơn thuần là khuôn khổ của hiệp định thương mại tự do giữa các quốc gia đối tác khu vực Thái Bình Dương. Đây còn là khuôn mẫu của những mối quan hệ hợp tác đa dạng sâu rộng theo hướng kinh tế thị trường, thương mại tự do. Hơn thế nữa, đó chính là sự khẳng định về cam kết hợp tác trên quan hệ đối tác của các  quốc gia có các chính thể khác nhau.
Thương mại và kinh tế chính là động lực để quan hệ VN và Hoa Kỳ rộng mở, lan tỏa sang các lĩnh vực giáo dục, đầu tư, chuyển giao công nghệ,…  
Việt- Mỹ, TPP, Hiệp định thương mại, xuất nhập khẩu, dệt may, tổng thống Obama, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng
Thương mại và kinh tế chính là động lực để quan hệ VN và Hoa Kỳ rộng mở, lan tỏa sang các lĩnh vực khác. Ảnh minh họa
Ông Lương Văn Tự, nguyên thứ trưởng Bộ Thương mại, nguyên đồng chủ tịch Ủy ban hỗn hợp VN – Hoa Kỳ, trưởng đoàn đàm phán WTO của VN: “Phát huy cái giống nhau và bỏ qua những cái khác nhau”.
Phải có quyết tâm chính trị cao, TPP mới có thể kết thúc và sẽ đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới phù hợp với xu hướng phát triển của nhân loại là hội nhập và cùng nhau phát triển, như cựu Tổng thống Bill Clinton đã nói: “VN và Hoa Kỳ tự giải phóng cho mình” để cùng bắt tay hợp tác mạnh mẽ.
Nhìn lại 20 năm quan hệ thương mại và kinh tế, tôi thấy nếu biết phát huy cái giống nhau và bỏ qua những cái khác nhau thì chúng ta sẽ làm nên những điều kỳ diệu. Năm 2000, VN và Hoa Kỳ ký Hiệp định thương mại (BTA). Về hàng hóa đã cắt giảm gần 300 dòng thuế nhập khẩu. Năm 2006, VN – Hoa Kỳ ký Hiệp định song phương gia nhập WTO, cam kết cắt giảm trên 10.000 dòng thuế XNK, bỏ hạn ngạch dệt may.
Nhờ hai hiệp định trên mà thương mại và đầu tư giữa hai nước có bước nhảy vọt. Nhờ BTA năm 1995, thương mại hai nước từ con số 0 lên 451 triệu USD ngay trong năm 1995. Đến năm 2014, thương mại hai chiều đã tăng lên đến trên 35 tỷ USD! Đầu tư FDI từ Hoa Kỳ từ 126 triệu USD năm 2000 lên 11 tỷ USD năm 2013.
Việc VN tham gia đàm phán TPP là ý chí và mong muốn xây dựng một khu vực kinh tế phát triển theo chuẩn mực tự do thương mại mới quanh bờ Thái Bình Dương. Điều này cũng chứng minh rằng cả hai nước đều mong muốn thịnh vượng và mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân hai nước.
Bà Rena Bitter, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TP.HCM: “Tương lai chung của hai nước chúng ta là vô tận”
Chúng ta đang trong một giai đoạn rất sôi động trong quan hệ song phương hai nước. Và đây cũng là một cơ hội tuyệt vời để chúng ta nhìn nhận về quá trình phát triển quan hệ giữa hai nước và những cơ hội sắp tới.
Gần đây nhất chúng ta đã có một minh chứng cho những thành tựu ngoại giao song phương khi Tổng bí thư ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ và hội kiến với Tổng thống Barack Obama.
Chúng ta đã có nhiều thành tựu trong giai đoạn từ 1995 đến nay. Khi mới bắt đầu vào năm 1995, khối lượng thương mại hai chiều mới chỉ gần 500 triệu USD, hiện tại đã đạt 35 tỷ USD. Mối quan hệ giao thương giữa hai nước sẽ còn tăng mạnh nữa khi TPP được hoàn thiện và kiến tạo một khu vực kinh tế bao trùm 40% nền kinh tế thế giới.
Cũng vào năm 1995, chỉ có 800 sinh viên VN học tập và nghiên cứu ở Hoa Kỳ. Ngày nay con số đó là hơn 17.000, đứng thứ 8 trong số cộng đồng sinh viên nước ngoài du học tại Hoa Kỳ.
Năm 2013, Chủ tịch nước VN Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama ký Hiệp định đối tác toàn diện, hai nhà lãnh đạo đã nêu ra 9 nội dung mà hai nước có thể mở rộng hợp tác. Hiện nay chúng ta đã có những bước tiến vượt bậc trong cả 9 nội dung này.
Hai mươi năm trước chúng ta không thể ngờ đến những kết quả như vậy! Có những điều hoàn toàn nằm ngoài sức tưởng tượng.
Chúng ta sẽ có những thử thách. Nhưng sự thành công của tình hữu nghị và bài học mà chúng ta nhận được từ những khởi sự ban đầu là, khi có thách thức, chúng ta phải thảo luận cởi mở, thẳng thắn nhằm giải quyết thách thức đó. Và, chúng ta đã làm được như vậy.
Ngài Peter Peterson, Đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại VN, ngay từ năm 1995 đã khẳng định: “Trong mối quan hệ này, không gì là không thể”. Tôi cũng tin tưởng như cựu Đại sứ rằng, tương lai chung của hai nước chúng ta là vô tận.
Hy vọng các bạn cũng có niềm tin như thế!    
Ông Phạm Phú Ngọc Trai, Chủ tịch Công ty hội nhập toàn cầu (GIBC), CEO đầu tiên của Pepsico Việt Nam: “ VN sẽ được hưởng lợi nhiều nhất trong khối TPP”
Mối quan hệ VN – Hoa Kỳ là một câu chuyện thú vị trong bức tranh tổng thể về Đổi mới và hội nhập của VN. BTA đã mang đến hiệu ứng bất ngờ. Xuất khẩu của VN sang Hoa Kỳ tăng 129% trong năm đầu tiên khi BTA có hiệu lực. Năm 2007, sau khi VN gia nhập WTO, xuất nhập khẩu VN và Hoa Kỳ tăng gấp 4 lần.
Từ năm 2012, VN đã đạt được thặng dư thương mại thường xuyên hơn. Trong những năm gần đây, thâm hụt thương mại lớn nhất được ghi nhận với TQ, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Thái Lan. Ngược lại, VN ghi nhận thặng dư thương mại với Hoa Kỳ, Hongkong, Anh, UAE…  
Năm 2015 là năm bận rộn mang tính quyết định cho tương lai của nền kinh tế VN. Đây là năm hình thành những khối tự do mậu dịch với sự tham gia của VN như Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định thương mại tự do VN – Liên hiệp châu Âu (Vietnam – EU AFTA) và đặc biệt là TPP.
Nhìn vào lịch sử của quá trình phát triển kinh tế hội nhập với thế giới, có thể tin rằng, TPP sẽ ảnh hưởng sâu rộng tới phát triển của VN. Đánh giá tác động của TPP, các chuyên gia dự báo VN sẽ là nước hưởng lợi nhiều nhất trong số 12 nước tham gia TPP.
Cụ thể nhất của những tác động thuận lợi là thuế suất bình quân với mặt hàng dệt may của VN vào thị trường Hoa Kỳ đang là 17,3% sẽ trở về 0% sau khi tham gia TPP. Theo số liệu của Hiệp hội dệt may của VN, tính đến tháng 4/2015, hàng dệt may của VN chiếm khoảng 10,16% thị phần hàng dệt may nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Trong khi đó Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu chủ lực của VN với 55% thị trường toàn ngành.
Ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch HĐQT tập đoàn Hoa Sen: “Chúng tôi đang chuẩn bị đón đầu xu thế…”
Tham gia đàm phán tích cực để tiến tới ký kết TPP, tôi nghĩ đây là cơ hội vô cùng thuận lợi cho 12 nước thành viên, đặc biệt là VN bởi các lý do sau:
Thứ nhất, VN sẽ có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu tới các nước thành viên do hàng rào thuế quan được dỡ bỏ.
Thứ hai, TPP sẽ “mở khóa” các thị trường mới rộng lớn hơn, thúc đẩy đầu tư, khuyến khích sự đổi mới và tạo ra việc làm với thu nhập cao. TPP sẽ tạo ra sân chơi bình đẳng giữa các DNNN và DNTN. Đây là cơ hội tốt để DN Việt Nam cạnh tranh lành mạnh với nhau và với các DN nước ngoài.
Thứ ba, TPP sẽ giúp VN giảm phụ thuộc và giảm thâm hụt thương mại với một số thị trường thông qua thặng dư thương mại với các thành viên, đặc biệt là Hoa Kỳ.
Đây là cơ hội để vươn cao vị thế trên thị trường quốc tế. Ngành hàng công nghiệp VN, trong đó có tập đoàn Hoa Sen sẽ tìm cách và biết cách nắm lấy cơ hội này. Khi TPP được ký kết, sản lượng XK của chúng tôi tới Hoa Kỳ sẽ tăng gấp nhiều lần. Vì vậy, chúng tôi đang tập trung đầu tư mở rộng SX, nâng cao năng lực cạnh tranh để đón đầu xu thế này khi TPP được ký kết…
Duy Chiến
Ông Lê Quốc Ân, Trưởng ban cố vấn Hiệp hội dệt may VN: “Cơ hội lớn cho ngành dệt may VN sau khi ký TPP”
- Năm 2014, hàng dệt may VN vào Hoa Kỳ đạt 9,853 tỷ USD, chiếm 9,2% thị phần NK dệt may của Hoa Kỳ, xếp thứ 2 sau TQ. Tính chung trong 10 năm (2004 – 2014), hàng dệt may VN vào Hoa Kỳ tăng 398%, tốc độ tăng bình quân mỗi năm 15%.   
- TPP là đòn bẩy giúp ngành dệt may tăng trưởng xuất khẩu vào Hoa Kỳ và tái cấu trúc nội lực một cách vững chắc