Thứ Ba, 25 tháng 8, 2015

HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN LÀ GÌ ?.

Hạnh phúc là được sống trong một xã hội lành mạnh, không tham nhũng, quản lý công khai, minh bạch gắn với những thang giá trị làm người... Nhưng đất nước cứ lận đận, có nguy cơ không ra khỏi bẫy thu nhập trung bình…

Trong tuần này, có một sự kiện lớn và hướng tới có một sự kiện lớn quan trọng không kém, thức tỉnh trong lòng người dân Việt biết bao suy ngẫm. Về quá khứ và hiện tại. Về hiện tại và tương lai.
Có cả sự bồi hồi và day dứt. Tưởng nhớ và âu lo. Khẳng định và đặt câu hỏi.
Đất nước- hai chữ thiêng liêng
Đó là kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Có thể thế thệ trẻ Việt Nam ngày nay sinh ra trong hòa bình chưa cảm nhận hết sự thiêng liêng của bốn chữ độc lập - tự do. Nhưng các thế hệ cha anh, trải qua thân phận nô lệ, của nghìn năm Bắc thuộc, của một thời cuộc đầy giông bão chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ quá thấm thía nỗi đau này. Và vì thế, bao thế hệ người Việt Lớp cha trước lớp con sau / Đã thành đồng chí chung câu quân hành đã phải dấn thân, hy sinh xương máu của mình để đất nước có chủ quyền, dân tộc có độc lập tự do.
Độc lập tự do, là… bốn chữ ngọt ngào, là hạnh phúc của một dân tộc và của mỗi người dân khi đó.
hanhphuc2
Đất nước - hai chữ thiêng liêng
Không phải tình cờ mà chủ đề về 70 năm Cách mạng tháng Tám, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại có cuộc tọa đàm trực tuyến Cái giá phải trả để được sống trong độc lập, tự do. Cái giá đó rất khắc nghiệt, không chỉ là xương máu của hàng triệu người lính, người dân Việt Nam đã đổ xuống, mà còn bởi một đặc thù như số phận dân tộc. Theo Giáo sư Vũ Minh Giang (Đâi học Quốc gia Hà Nội) : Có rất nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu có thể do vị trí địa-chính trị, giao thoa văn hóa hoặc cũng có thể do ta sinh cơ lập địa ở cạnh một đế chế nhiều tham vọng chăng, mà trong suốt chiều dài lịch sử không mấy khi chúng ta được sống trong bình yên.
Một câu hỏi mang tính khẳng định, nhưng trước đó, cả lịch sử dân tộc dài hàng nghìn năm đã giãi bày, bằng máu và nước mắt.
Số phận khắc nghiệt đến mức, Giáo sư Trần Ngọc Vương (Đâi học Quốc gia Hà Nội) cũng trong cuộc tọa đàm, đã nhân xét thẳng thắn : Cho đến hôm nay, vấn đề độc lập dân tộc vẫn còn phải tiếp tục, nghĩa là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và gìn giữ độc lập vẫn nên triển khai một cách quyết liệt. Bởi vì sẽ còn rất gian nan. Nếu chúng ta quên đi đều đó, vẫn cứ nghĩ rằng chúng ta đã có độc lập rồi thì thật là tai hoạ.
Giành lại chủ quyền, độc lập tự do dân tộc đã khó. Giữ gìn, phát triển và hội nhập với thước đo văn hóa của nhân loại văn minh còn khó hơn.
Đó cũng chính là lý do, 11 năm sau thống nhất đất nước, là những thăng trầm, gieo neo của cả dân tộc, bởi những khiếm khuyết của cơ chế quan liêu bao cấp, dẫn đến có không ít những sai lầm trong phát triển khiến đời sống xã hội cực khổ. Để cuối cùng, một quyết định mang tính đột phá ra đời- sau những day dứt, dằn vặt, tranh cãi - Đổi mới ! Để từ cơ chế quản lý, từ quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Câu khẩu hiệu "Đổi mới hay là chết" thật linh nghiệm với những năm tháng gian khổ khó quên. Với một thời cuộc đầy mưa nắng ấm lạnh của lịch sử.
Để từ đó, diện mạo cả một xã hội thay đổi. Từ cơ chế đến chất lượng cuộc sống vật chất cả xã hội cho tới tận mỗi gia đình. Từ sự đổi mới chung đến sự đổi mới riêng các ngành, các lĩnh vực. Từ kinh tế đến giáo dục, văn hóa, y tế… Sự đổi mới về quan niệm còn dẫn đến sự đổi mới những thang bậc giá trị.
Nhưng ai là người làm nên Đổi mới ?
Cố Giáo sư kinh tế Đặng Phong, tác giả của hàng chục đầu sách nghiên cứu lịch sử kinh tế Việt Nam rất nổi tiếng, khi còn sống, trong cuộc trò chuyện với người viết bài này, đã có một nhận xét rất đáng chú ý, có thể nói khá bản chất về công cuộc đổi mới : Sự đổi mới diễn ra trong xã hội Việt Nam, không phải là công lao của một cá nhân, một cha đẻ, hay lãnh tụ đổi mới nào. Mà mỗi người lãnh đạo Việt Nam có một vai trò khác nhau. Nói cách khác, chính trào lưu đổi mới này mới là "anh hùng" tạo nên thời thế- thời của nền kinh tế mới mang cái tên xưa kia người ta rất dị ứng- kinh tế thị trường (Tuần Việt Nam, ngày 06/9/2010).
Đó là cố Giáo sư Đặng Phong nói về bộ máy lãnh đạo, có trách nhiệm lớn lao gánh vác sứ mệnh dân tộc vào thời khắc quyết định sinh tử nhất.
hanhphuc3
Đất nước giàu mạnh là niềm mong mỏi của mọi công dân. Ảnh minh họa, nguồn : Zing.vn
Còn trong thực tiễn cuộc đời, nơi mọi lý thuyết đều màu xám, chỉ cây đời mãi xanh tươi, vẫn có một con người, một quan chức chính quyền địa phương, nguyên là một người nông dân đã rất can đảm thay đổi, từ tư duy, nhận thức đến hành động, và cuối cùng, góp phần tạo ra sự chuyển biến thần kỳ trong nông nghiệp, một trong những ngành cốt tử nhất của đất nước. Trước hết là mảnh đất Vĩnh Phú trung du của ông, rồi lan nhanh sang các địa phương khác.
Như một làn gió lạ, rồi chuyển thành luồng gió mát lành. Cho đồng lúa nở hoa. Và gương mặt người nông dân nở nụ cười, dù dấu vết khắc khổ vẫn hằn sâu theo năm tháng.
Đó là Kim Ngọc- Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú (cũ), người mà Ts Tô Văn Trường, trong bài viết trên Tuần Việt Nam, ngày 19/8, đã gọi ông là cái Kim bằng Ngọc, dám châm thẳng vào 'huyệt' cơ chế bảo thủ, tạo nên một "hiện tượng"- hiện tượng Kim Ngọc !
Đã có biết bao bài báo, thậm chí cả một bộ phim truyền hình dài nhiều tập- Bí thư Tỉnh ủy- để nói về ông. Cũng là để vinh danh ông, một quan chức nông dân đi mở con đường "khoán hộ".
Có lẽ ở ông, có cả ba điều mà người đời xưa cho chí đời nay đều ngưỡng mộ khi nói về một nhân cách :
Có trí, để nhìn ra những vấn đề mà nhiều người đương thời, vì nhiều lý do đã không thể nhìn ra.
Có dũng, để dám biến nhận thức mới đó thành hành động thực tiễn.
Có gan, để dám làm dám chịu trách nhiệm. Và có đủ niềm tin vào hành động thực tiễn của mình.
Như một quy luật xã hội , những người có tầm nhìn, đi trước thời đại, bao giờ cũng phải chịu hy sinh.
Nhưng Trời không phụ ông. Và người viết tin rằng, Đời rồi sẽ không thể phụ ông.
Còn trong con mắt những người nông dân chân đất, ông vẫn là người anh hùng áo vải cờ đào dựng nên "khoán hộ" no ấm.
Hạnh phúc - không duy nhất và bất biến
Ba mươi năm Đổi mới, với những thành tựu phát triển không thể phủ nhận, về diện mạo xã hội , chất lượng vật chất trong cuộc sống mỗi gia đình. Vậy nhưng trước những thách thức của thời cuộc- hội nhập hiện đại, với những thang giá trị văn minh, Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ không thoát được "bẫy trung bình".
Đó là nhận xét của Giáo sư Kenichi Ohno - Viện Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản, người có 20 năm nghiên cứu Việt Nam. Cũng theo Giáo sư Kenichi Ohno có nhiều dấu hiệu để khẳng định điều đó. Thứ nhất, tăng trưởng GDP của Việt Nam chậm lại. Thứ hai, năng suất lao động kém. Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu ở Việt Nam chỉ mang tính hình thức. Thứ tư là Việt Nam đã bị trì trệ trong các bảng xếp hạng toàn cầu. Thứ năm là Việt Nam đã gặp các vấn đề nảy nảy sinh do tăng trưởng như ô nhiễm, tham nhũng, bong bóng bất động sản, chênh lệch giàu nghèo (Tuổi trẻ, ngày 15/4/2014).
Rõ ràng, ở thời cuộc nhân loại đang gấp gáp phát triển, Việt Nam vẫn đang … lận đận. Vì sao ?
Ở góc độ kinh tế, hành trình hội nhập khiến nền kinh tế của bất cứ quốc gia nào cũng phải tạo nên được nội lực mạnh mẽ của chính mình. Quá trình tự thân vận động đó, tạo nên sức phát triển, và tạo ra khả năng hội nhập thế giới hiện đại. Nhưng sự tự thân vận động của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào ba yếu tố mang tính quyết định : Thể chế kinh tế văn minh ; Môi trường kinh doanh công bằng, lành mạnh ; Và công nghệ mới.
Về hiện tượng, theo chuyên gia Phạm Chi Lan, rất đáng lo là năng lực cạnh tranh của Việt Nam cho đến nay vẫn còn thua xa các nước ASEAN 6. Đã 20 năm tham gia ASEAN nhưng Việt Nam vẫn còn nằm trong nhóm 04 nước lạc hậu hơn của ASEAN (gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar). Mặc dù, năm 2014, Thủ tướng chính phủ đã quyết định năm 2015 là "Năm Doanh nghiệp", nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, tăng năng lực cạnh tranh của kinh tế Việt Nam. Kèm đó, là mục tiêu "nhích" từng bước- năm 2014, môi trường kinh doanh sao cho ngang bằng với ASEAN 6. Năm 2015, phải cạnh tranh được với ASEAN 4 (04 nước tiên tiến nhất trong ASEAN). Bởi nếu không đua được với ASEAN 4 thì sao ra được biển lớn, đua được với các quốc gia mạnh như Mỹ, khối EU, v.v.
hanhphuc4
Nay, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam là gì ? Ảnh minh họa, nguồn : Zing.vn
Hiện tượng đó có những căn nguyên hạn chế sự phát triển của nền kinh tế- xã hội , nói rộng ra, của một quốc gia ? Chắc chắn là có.
Đó là về thể chế kinh tế. Mặc dù có những thay đổi- xóa bỏ cơ chế bao cấp, nhưng phải nói thẳng rằng, cơ chế quản trị khối các doanh nghiệp nhà nước, chiếm phần lớn đầu tư, tài sản vật lực quốc gia, thực chất vẫn là cơ chế xin- cho, nặng tính lợi ích nhóm, môi trường màu mỡ cho tham nhũng đục khoét, cho lối "đi đêm" với hoa hồng, lại quả, với thành ngữ được ưa chuộng ông rút chân giò, bà thò chai rượu.
Đến mức, cũng theo Infonet, trong xếp hạng về thể chế, Việt Nam xếp ở mức rất kém trong các chỉ số chi phí "bôi trơn" so với nhiều nước khác. Một điều tra cho thấy, trung bình cứ 01 đồng lợi nhuận doanh nghiệp phải mất 1,02 đồng cho "bôi trơn". Có nghĩa, nếu tham nhũng ở nước ta giảm đi 50% thì đã làm tăng được 50% lợi nhuận của doanh nghiệp. Số liệu điều tra của Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam cho thấy, so với 10 năm trước đây quy mô của doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ còn bằng… một nửa.
Một điều đáng lưu tâm, mới đây, Ngân hàng Bank of America vừa công bố, nợ công của Việt Nam đứng thứ 12 trong nhóm rủi ro cao nhất thế giới. Thế nhưng, mặc dù nợ công cao, các doanh nghiệp nhà nước vẫn xếp hàng xin chính phủ bảo lãnh các khoản vay thưng mại tới hàng tỷ USD, còn Bộ Tài chính đã ứng ra hơn 01 tỷ USD để trả nợ thay cho các doanh nghiệp vì thua lỗ, khó khăn. Đối tượng được trả nợ thay hầu hết là doanh nghiệp nhà nước triển khai dự án thua lỗ, như Tổng Công ty Cơ khí xây dựng, Tổng Công ty Giấy Việt Nam, Tổng Công ty xây dựng Công nghiệp Việt Nam, Tập đoàn Sông Đà, Tổng công ty xi măng Việt Nam (VietNamNet, ngày 06/6).
Nghĩa là toàn ông lớn, nhưng hiệu quả làm ăn rất… bé.
Thể chế kinh tế thiếu lành mạnh, tất yếu dẫn đến môi trường kinh doanh không công bằng, sòng phẳng. Mặc dù mới đây, theo Luật Đầu tư mới, bắt đầu từ tháng 7/2015, sẽ có tới 3.299 điều kiện kinh doanh vô lối (thực chất là những điều kiện gây khó dễ, đòi các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải chung chi, ăn chia….) sẽ được xóa bỏ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vươn lêntùy theo sức của mình.
Thế nhưng đến thời điểm tháng 6/2015, theo báo cáo của CIEM (Trung tâm thông tin tư liệu- Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương) vẫn còn tới 14 bộ, cơ quan ; 55 tỉnh chưa có kế hoạch này (Dân Việt, ngày 06/6). Đủ biết lợi ích đã khiến cho ngay cả các cơ quan, các ngành chức năng cứ dùng dằng kiểu em cứ hẹn nhưng em đừng làm nhé, ra sao.
Đã thế, cũng theo Infonet, ngày 10/8, trong các nước tham gia TPP, Việt Nam xếp ở hàng thấp nhất về trình độ công nghệ, dù đây là yếu tố vô cùng quan trọng, tạo ra những bước ngoặt quyết định về năng lực cạnh tranh, và thuộc về trách nhiệm vĩ mô của nhà nước. Trong thực tế, rất nhiều doanh nghiệp cho biết họ không thể tiếp cận được với những chính sách khuyến khích về công nghệ của nhà nước. Bởi vì chi phí để nhận được ưu đãi có khi lại còn… lớn hơn cả mức được ưu đãi.
Thực chất, toàn bộ những điều kiện mang tính chất quyết định tới sự phát triển nói trên, lại bị sự lũng đoạn của những hành vi tham nhũng. Đó mới là điều đáng nói.
Và như vậy, sự phát triển của Việt Nam không thể nhẹ nhàng… cất cánh, nếu như nước Việt không diệt trừ được tham nhũng, các nhóm lợi ích, thông qua cải cách thể chế kinh tế. Và cùng với những giải pháp cốt tử khác.
Chợt nhớ tới đất nước 70 năm trước đây, phải chống giặc ngoại xâm, giành chính quyền. Vậy mà, như nhận xét của Giáo sư Trần Ngọc Vương, một nhà nghiên cứu thì lịch sử cho thấy, có rất nhiều người trong chính phủ của nhóm Trần Trọng Kim, rồi Vua Bảo Đại đã ngả theo và họ dần trở thành những yếu nhân của chính quyền mới (Việt minh). Rõ ràng họ là những người biết đặt lợi ích của việc ra đời một nhà nước độc lập lên trên lợi ích cá nhân. Và như Vua Bảo Đại đã có tuyên ngôn nổi tiếng "Tôi thà làm công dân của một nước tự do còn hơn làm vua của một nước nô lệ".
Vậy mà 70 năm sau, đất nước đã yên bình, thì "giặc nội xâm" lại trở thành vật cản tinh vi và lớn nhất cho sự phát triển của đất nước ?
Hạnh phúc là khái niệm, là nội hàm mỗi đời người thường mơ ước
Nhưng hạnh phúc không có duy nhất và bất biến. Với mỗi con người đã vậy. Với cả dân tộc- càng vậy.
Xưa, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam là chủ quyền độc lập, dân tộc, là tự do, cơm no áo ấm.
Nay, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam là gì ? Nếu không phải là dân chủ, giàu mạnh, công bằng và văn minh. Hạnh phúc là được sống trong một xã hội lành mạnh, không tham nhũng, quản lý công khai, minh bạch gắn với những thang giá trị làm người, những thang giá trị văn hóa đích thực.
Nhưng đất nước cứ lận đận, có nguy cơ không ra khỏi bẫy thu nhập trung bình, thì hạnh phúc con người… có phát triển không ?
Kỳ Duyên 
Theo TuanVietnam, 22/08/2015

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2015

Việt-Mỹ:có những điều nằm ngoài sức tưởng tượng.

“Thương mại và kinh tế chính là động lực để quan hệ VN và Hoa Kỳ rộng mở, lan tỏa sang các lĩnh vực giáo dục, đầu tư, chuyển giao công nghệ…”  
‘Tổng Bí thư gây ấn tượng mạnh với chính giới Mỹ’Mùi củi cháy ở VN và những ‘kẻ điên rồ’ nước Mỹ'Mỹ rất muốn quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam'Tôi thực sự choáng trước dự thảo ‘sặc mùi Mỹ’ 
LTS: Nhân chuyến thăm chính thức của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đến Việt Nam (ngày 6-8/8), sau những chuỗi hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 20 năm Việt – Mỹ, Tuần Việt Nam ghi lại ý kiến, cảm xúc từ những người từng làm “nhịp cầu” cho 2 đất nước nằm bên 2 bờ Thái Bình Dương. 
Ông Trần Tuấn Anh, phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công thương, nguyên Tổng lãnh sự VN tại TP. San Francisco: “Thương mại và kinh tế chính là động lực cho quan hệ mở rộng…”
Chắc chắc rằng, 20 năm trước  dù có lạc quan đến bao nhiêu cũng không thể đánh giá đầy đủ được như kết quả hôm nay. 
Qua chuyến thăm Mỹ của TBT Nguyễn Phú Trọng,  mối quan hệ Việt – Mỹ đã khẳng định những nền tảng cơ bản và vô cùng quan trọng, đảm bảo cho sự phát triển của mối quan hệ đó. Sự có mặt của nhà lãnh đạo ĐCS VN với tổng thống quốc gia đối tác Hoa Kỳ ghi nhận và khẳng định tầm vóc quan trọng của mối quan hệ này, cũng như ghi nhận sự khác biệt và tôn trọng sự khác biệt, hướng vào mục tiêu chung.
Chúng ta đã đi được bước dài để đạt được  niềm tin chiến lược như lời khẳng định của các nhà lãnh đạo của 2 nhà nước. Hãy biến  niềm tin chiến lược đó thành những chương trình, kế hoạch cụ thể của mình, khai thác những cơ hội của quan hệ Việt – Mỹ. Đặc biệt trong bối cảnh khi việc gia nhập TPP đang đi vào bước nước rút.
Chúng ta phải hiểu thực chất TPP không chỉ đơn thuần là khuôn khổ của hiệp định thương mại tự do giữa các quốc gia đối tác khu vực Thái Bình Dương. Đây còn là khuôn mẫu của những mối quan hệ hợp tác đa dạng sâu rộng theo hướng kinh tế thị trường, thương mại tự do. Hơn thế nữa, đó chính là sự khẳng định về cam kết hợp tác trên quan hệ đối tác của các  quốc gia có các chính thể khác nhau.
Thương mại và kinh tế chính là động lực để quan hệ VN và Hoa Kỳ rộng mở, lan tỏa sang các lĩnh vực giáo dục, đầu tư, chuyển giao công nghệ,…  
Việt- Mỹ, TPP, Hiệp định thương mại, xuất nhập khẩu, dệt may, tổng thống Obama, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng
Thương mại và kinh tế chính là động lực để quan hệ VN và Hoa Kỳ rộng mở, lan tỏa sang các lĩnh vực khác. Ảnh minh họa
Ông Lương Văn Tự, nguyên thứ trưởng Bộ Thương mại, nguyên đồng chủ tịch Ủy ban hỗn hợp VN – Hoa Kỳ, trưởng đoàn đàm phán WTO của VN: “Phát huy cái giống nhau và bỏ qua những cái khác nhau”.
Phải có quyết tâm chính trị cao, TPP mới có thể kết thúc và sẽ đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới phù hợp với xu hướng phát triển của nhân loại là hội nhập và cùng nhau phát triển, như cựu Tổng thống Bill Clinton đã nói: “VN và Hoa Kỳ tự giải phóng cho mình” để cùng bắt tay hợp tác mạnh mẽ.
Nhìn lại 20 năm quan hệ thương mại và kinh tế, tôi thấy nếu biết phát huy cái giống nhau và bỏ qua những cái khác nhau thì chúng ta sẽ làm nên những điều kỳ diệu. Năm 2000, VN và Hoa Kỳ ký Hiệp định thương mại (BTA). Về hàng hóa đã cắt giảm gần 300 dòng thuế nhập khẩu. Năm 2006, VN – Hoa Kỳ ký Hiệp định song phương gia nhập WTO, cam kết cắt giảm trên 10.000 dòng thuế XNK, bỏ hạn ngạch dệt may.
Nhờ hai hiệp định trên mà thương mại và đầu tư giữa hai nước có bước nhảy vọt. Nhờ BTA năm 1995, thương mại hai nước từ con số 0 lên 451 triệu USD ngay trong năm 1995. Đến năm 2014, thương mại hai chiều đã tăng lên đến trên 35 tỷ USD! Đầu tư FDI từ Hoa Kỳ từ 126 triệu USD năm 2000 lên 11 tỷ USD năm 2013.
Việc VN tham gia đàm phán TPP là ý chí và mong muốn xây dựng một khu vực kinh tế phát triển theo chuẩn mực tự do thương mại mới quanh bờ Thái Bình Dương. Điều này cũng chứng minh rằng cả hai nước đều mong muốn thịnh vượng và mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân hai nước.
Bà Rena Bitter, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TP.HCM: “Tương lai chung của hai nước chúng ta là vô tận”
Chúng ta đang trong một giai đoạn rất sôi động trong quan hệ song phương hai nước. Và đây cũng là một cơ hội tuyệt vời để chúng ta nhìn nhận về quá trình phát triển quan hệ giữa hai nước và những cơ hội sắp tới.
Gần đây nhất chúng ta đã có một minh chứng cho những thành tựu ngoại giao song phương khi Tổng bí thư ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ và hội kiến với Tổng thống Barack Obama.
Chúng ta đã có nhiều thành tựu trong giai đoạn từ 1995 đến nay. Khi mới bắt đầu vào năm 1995, khối lượng thương mại hai chiều mới chỉ gần 500 triệu USD, hiện tại đã đạt 35 tỷ USD. Mối quan hệ giao thương giữa hai nước sẽ còn tăng mạnh nữa khi TPP được hoàn thiện và kiến tạo một khu vực kinh tế bao trùm 40% nền kinh tế thế giới.
Cũng vào năm 1995, chỉ có 800 sinh viên VN học tập và nghiên cứu ở Hoa Kỳ. Ngày nay con số đó là hơn 17.000, đứng thứ 8 trong số cộng đồng sinh viên nước ngoài du học tại Hoa Kỳ.
Năm 2013, Chủ tịch nước VN Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama ký Hiệp định đối tác toàn diện, hai nhà lãnh đạo đã nêu ra 9 nội dung mà hai nước có thể mở rộng hợp tác. Hiện nay chúng ta đã có những bước tiến vượt bậc trong cả 9 nội dung này.
Hai mươi năm trước chúng ta không thể ngờ đến những kết quả như vậy! Có những điều hoàn toàn nằm ngoài sức tưởng tượng.
Chúng ta sẽ có những thử thách. Nhưng sự thành công của tình hữu nghị và bài học mà chúng ta nhận được từ những khởi sự ban đầu là, khi có thách thức, chúng ta phải thảo luận cởi mở, thẳng thắn nhằm giải quyết thách thức đó. Và, chúng ta đã làm được như vậy.
Ngài Peter Peterson, Đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại VN, ngay từ năm 1995 đã khẳng định: “Trong mối quan hệ này, không gì là không thể”. Tôi cũng tin tưởng như cựu Đại sứ rằng, tương lai chung của hai nước chúng ta là vô tận.
Hy vọng các bạn cũng có niềm tin như thế!    
Ông Phạm Phú Ngọc Trai, Chủ tịch Công ty hội nhập toàn cầu (GIBC), CEO đầu tiên của Pepsico Việt Nam: “ VN sẽ được hưởng lợi nhiều nhất trong khối TPP”
Mối quan hệ VN – Hoa Kỳ là một câu chuyện thú vị trong bức tranh tổng thể về Đổi mới và hội nhập của VN. BTA đã mang đến hiệu ứng bất ngờ. Xuất khẩu của VN sang Hoa Kỳ tăng 129% trong năm đầu tiên khi BTA có hiệu lực. Năm 2007, sau khi VN gia nhập WTO, xuất nhập khẩu VN và Hoa Kỳ tăng gấp 4 lần.
Từ năm 2012, VN đã đạt được thặng dư thương mại thường xuyên hơn. Trong những năm gần đây, thâm hụt thương mại lớn nhất được ghi nhận với TQ, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Thái Lan. Ngược lại, VN ghi nhận thặng dư thương mại với Hoa Kỳ, Hongkong, Anh, UAE…  
Năm 2015 là năm bận rộn mang tính quyết định cho tương lai của nền kinh tế VN. Đây là năm hình thành những khối tự do mậu dịch với sự tham gia của VN như Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định thương mại tự do VN – Liên hiệp châu Âu (Vietnam – EU AFTA) và đặc biệt là TPP.
Nhìn vào lịch sử của quá trình phát triển kinh tế hội nhập với thế giới, có thể tin rằng, TPP sẽ ảnh hưởng sâu rộng tới phát triển của VN. Đánh giá tác động của TPP, các chuyên gia dự báo VN sẽ là nước hưởng lợi nhiều nhất trong số 12 nước tham gia TPP.
Cụ thể nhất của những tác động thuận lợi là thuế suất bình quân với mặt hàng dệt may của VN vào thị trường Hoa Kỳ đang là 17,3% sẽ trở về 0% sau khi tham gia TPP. Theo số liệu của Hiệp hội dệt may của VN, tính đến tháng 4/2015, hàng dệt may của VN chiếm khoảng 10,16% thị phần hàng dệt may nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Trong khi đó Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu chủ lực của VN với 55% thị trường toàn ngành.
Ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch HĐQT tập đoàn Hoa Sen: “Chúng tôi đang chuẩn bị đón đầu xu thế…”
Tham gia đàm phán tích cực để tiến tới ký kết TPP, tôi nghĩ đây là cơ hội vô cùng thuận lợi cho 12 nước thành viên, đặc biệt là VN bởi các lý do sau:
Thứ nhất, VN sẽ có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu tới các nước thành viên do hàng rào thuế quan được dỡ bỏ.
Thứ hai, TPP sẽ “mở khóa” các thị trường mới rộng lớn hơn, thúc đẩy đầu tư, khuyến khích sự đổi mới và tạo ra việc làm với thu nhập cao. TPP sẽ tạo ra sân chơi bình đẳng giữa các DNNN và DNTN. Đây là cơ hội tốt để DN Việt Nam cạnh tranh lành mạnh với nhau và với các DN nước ngoài.
Thứ ba, TPP sẽ giúp VN giảm phụ thuộc và giảm thâm hụt thương mại với một số thị trường thông qua thặng dư thương mại với các thành viên, đặc biệt là Hoa Kỳ.
Đây là cơ hội để vươn cao vị thế trên thị trường quốc tế. Ngành hàng công nghiệp VN, trong đó có tập đoàn Hoa Sen sẽ tìm cách và biết cách nắm lấy cơ hội này. Khi TPP được ký kết, sản lượng XK của chúng tôi tới Hoa Kỳ sẽ tăng gấp nhiều lần. Vì vậy, chúng tôi đang tập trung đầu tư mở rộng SX, nâng cao năng lực cạnh tranh để đón đầu xu thế này khi TPP được ký kết…
Duy Chiến
Ông Lê Quốc Ân, Trưởng ban cố vấn Hiệp hội dệt may VN: “Cơ hội lớn cho ngành dệt may VN sau khi ký TPP”
- Năm 2014, hàng dệt may VN vào Hoa Kỳ đạt 9,853 tỷ USD, chiếm 9,2% thị phần NK dệt may của Hoa Kỳ, xếp thứ 2 sau TQ. Tính chung trong 10 năm (2004 – 2014), hàng dệt may VN vào Hoa Kỳ tăng 398%, tốc độ tăng bình quân mỗi năm 15%.   
- TPP là đòn bẩy giúp ngành dệt may tăng trưởng xuất khẩu vào Hoa Kỳ và tái cấu trúc nội lực một cách vững chắc

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

Vở Kịch Ông Không Phải Là Bố Tôi Phần 1.




Ông không phải là bố tôi là vở kịch mà các nghệ sĩ Nhà hát Kịch Hà Nội vừa biểu diễn thành công tại Liên hoan Sân khấu Lưu Quang Vũ. Xót xa, đắng cay là những gì mà khán giả cảm nhận được từ thực tế phũ phàng mà vấn đề vở kịch đã đề cập tới, những chuyện này thực tế đang diễn ra và là nỗi âm ỉ, nhức nhối đối với tất cả những con người sống có lương tri. Vở kịch đan xen quá khứ với hiện tại, giữa những điều vụ lợi và cả thói mưu toan của chính những người thân trong gia đình, đến độ phủ nhận “Ông không phải là bố tôi”. Nội dung vở kịch: Trong thời gian hoạt động cách mạng, ông Lại Văn Ủng phải thay tên đổi họ, ông Ủng sợ sự liên lụy bởi lai lịch của bố vợ nên đã ruồng rẫy chính vợ và con trai của mình. Chính bởi vậy nên nỗi tổn thương trong trái tim của cậu bé Thiết, con trai của ông Ủng, ngày nào giờ trở thành nỗi hận thù sâu sắc. Sau khi mẹ mất, anh Thiết đã mời bố về ở chung nhưng là để lợi dụng từ chính những mối quan hệ của bố với các cán bộ lão thành. Điều trớ trêu là ông Ủng về già lại “đổ đốn” phải lòng người đàn bà xảo trá tên Lài. Mụ Lài đã cấu kết với đám thanh niên xấu hòng chiếm đoạt ngôi nhà của bố con anh Thiết. Còn Tân, con trai của anh Thiết và là cháu đích tôn của ông Ủng đã bất đắc dĩ trở thành người chứng kiến tất cả những âm mưu toan tính và các hành động tệ bạc của chính người thân trong gia đình. Và cuối cùng chính Tân lại là người thức tỉnh và là sợi dây gắn kết mọi người trong gia đình. Ông không phải là bố tôi là một bài học sâu sắc về quy luật nhân – quả và dưới ngòi bút của Lưu Quang Vũ, tác phẩm ấy vẫn có sức sống lâu bền, có khả năng thức tỉnh lương tri và chuyên chở những giá trị nhân văn tốt đẹp.

Vở Kịch Ông Không Phải Là Bố Tôi Phần 2










Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2014

Mốt hoành tráng và “đất nước của những cái lạ”

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/202639/mot-hoanh-trang-va--dat-nuoc-cua-nhung-cai-la-.html

Nước Việt có thể tiếp cận thế giới hiện đại hay vẫn một mình một chợ, không bước kịp với văn minh nhân loại?
I-Tuần này, nợ xấu còn chưa qua, nợ công đã… sồng sộc đến!
Số liệu công bố mới nhất của Chính phủ cho thấy đến hết năm 2014, nợ công dự kiến lên đến 60,3% GDP và đến cuối năm 2015 đạt mức 64% GDP (Người lao động, ngày 14/10). Nợ công, là tổng giá trị các khoản tiền mà Chính phủ (từ TƯ đến địa phương) đi vay hỗ trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách. Để hiểu được tính chất quy mô nợ công, người ta thường đo khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Cũng tính đến 09 giờ ngày 14/10, đồng hồ nợ công toàn cầu trên trang The Economist.com cho biết, nợ công của VN ở mức trên 84,607 tỷ USD. Bình quân nợ công theo đầu người là 933,41 USD/ người. Nợ công đến thời điểm này, chiếm 47,3% GDP, tăng 10,6% so với năm 2013.
Đáng chú ý, theo Ngân hàng thế giới (WB) năm 2013, GDP bình quân đầu người của VN là 1.910 USD/ người.
Ấn tượng trong tuần, mốt hoành tráng, đất nước, cái lạ, Kỳ Duyên, từ chức, văn hóa
Ảnh minh họa: Khều
Trong khi đó, theo Ngân hàng Nhà nước VN, nợ xấu (là các khoản tiền ngân hàng cho các doanh nghiệp vay, mà không thể thu hồi lại được, do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản) ở thời điểm tháng 09/2014 là 500.000 tỷ đồng. Tính đến cuối tháng 6/2014, nợ xấu ở mức 4,17%, cao hơn mức 4,07% vào cuối tháng 5/2014 và mức 3,61% cuối năm 2013 (tính trên tổng dư nợ cho vay).
Như vậy cả nợ công và nợ xấu đều có chiều hướng tăng- làm thành một cặp đôi… hoàn hảo trên “vũ trường” kinh tế nước Việt.
Đáng chú ý nữa, mặc dù quy định của Quốc hội thì nợ công -64% - vẫn nằm ở ngưỡng an toàn, nhưng theo các chuyên gia kinh tế, thực chất nó đã ở mức cận kề rủi ro, rất đáng lo ngại. Vì bản chất của nợ công không chỉ nằm ở tỉ lệ % so với GDP, mà quan trọng là cơ cấu nợ, khả năng trả nợ và hiệu quả sử dụng các khoản vay để đầu tư công.
Cứ theo khái niệm bản chất này, thì từ năm 2012, VN đã bắt đầu phải thực hiện vay để đảo nợ, tức là dành một phần vốn vay mới để trả nợ cũ và mức đảo nợ này ngày càng… lớn. Năm 2014 Chính phủ phải vay hơn 70.000 tỉ đồng để đảo nợ. Năm 2015 dự kiến tăng gần gấp đôi, đạt mức 130.000 tỉ đồng. Số tiền lãi phải trả nợ hằng năm cũng đang leo thang (Người Lao động, ngày 14/10)
Thực trạng kinh tế nước Việt với những món nợ công, nợ xấu khiến cho ai nhìn vào những con số “có hồn” biết nói, cũng….ngơ ngẩn sầu.
Chợt nhớ tới câu chuyện thời bao cấp. Có một người đàn bà rất nghèo, thường xuyên phải đi vay tiền nuôi đàn con thơ trứng gà trứng vịt. Mỗi lần đi vay, bà hay mặc chiếc áo cánh phin nõn, gấu áo, cổ áo đều bô đê- mốt áo của những người đàn bà thành phố có của ăn của để thời đó, tay bà đeo chiếc nhẫn vàng (giả) to sụ, trông rất hào nhoáng. Chỉ để cho mọi người có lòng tin rằng bà có đủ khả năng trả nợ.
Chính vì vậy, hiện tượng các địa phương sính mốt thời thượng- xây trụ sở to, hoành tráng bỗng nổi lên, khiến dư luận thêm một lần nổi sóng.
Người Việt mình vốn hay đua nhau theo phong trào. Nhưng cái tâm lý tiểu nông con gà tức nhau tiếng gáy thì muôn đời… truyền thống. Dư luận xã hội cách đây ít lâu xôn xao vụ việc nhà vệ sinh tiền tỷ, dát vàng, trong khi có không ít những bé thơ chân đất, bụng đói đi học. Xôn xao về cái tính "ăn tục" không từ một thứ gì. Nay lại xôn xao kính nể những trụ sở hành chính các tỉnh đua nhau thể hiện mình.

Nói cho công bằng, diện mạo một địa phương, đương nhiên phải thể hiện được cả cái uy, cái thế, và cả cái “nhân” với nhân gian. Nhưng điều đáng nói, kinh tế nước Việt đang ốm o, kinh tế địa phương nhiều tỉnh còn phải trông vào bầu sữa TƯ, mà thực chất cũng là tiền dân. Thì cái cách chọn thời điểm để thể hiện mình rất không cân xứng với tiềm lực kinh tế đã đành, mà còn đua nhau kiểu phi hoành tráng bất thành Ủy ban?
Thế nên, cả xã hội ngợp trước độ… chịu chơi của các tỉnh.
Đứng đầu tỉnh miền núi phía bắc, phải nói là Lai Châu. Một tỉnh miền núi cao, nghèo nhất nhì cả nước, thu nhập bình quân cũng… rứa. Vậy mà mới đây, Lai Châu hoàn thành Khu hành chính tập trung của tỉnh, với tổng diện tích sàn lên đến 42.000m2 , tổng mức đầu tư 554 tỷ đồng. Và công trình này vừa được tặng “Cúp vàng chất lượng xây dựng VN năm 2010”.
Tỉnh bắc đã vậy, tỉnh nam cũng không kém cạnh. Đến thời điểm này, đứng đầu là trụ sở UBND tỉnh Bình Dương. Với tòa nhà hành chính cao 20 tầng, hai tòa tháp, trụ sở này ngốn 1400 tỷ đồng. Không chịu thua, tỉnh Đồng Nai đang dự kiến xây trung tâm hành chính của tỉnh, với diện tích sàn xây dựng 122000 m2, và số vốn đầu tư dự kiến hơn 2200 tỷ đồng.
Mặc dù mới được chia tách còn nhiều khó khăn, nhưng trụ sở làm việc và hội trường cấp ủy Hậu Giang tọa lạc trên 3,3 hecta, với tổng mức đầu tư xây dựng gần 300 tỉ đồng, cũng được thiết kế rất hiện đại.
Chịu chơi nhất các tỉnh miền trung phải là UBND t/p Đà Nẵng, với một khối kiến trúc tân kỳ có 34 tầng nổi, tổng mức đầu tư xây dựng khoảng 1.900 tỷ đồng.
Và mới đây nhất là tỉnh Hải Dương. Khu hành chính tỉnh này rộng khoảng 19,15 héc ta, với tổng mức đầu tư khoảng 2.060 tỉ đồng sẽ mọc lên nay mai, gây nên bao đàm tiếu.
Trong khi tài năng điều hành, hiệu quả quản lý và phát triển kinh tế- xã hội- dân trí các địa phương đó có “sánh” ngang với những trụ sở hoành tráng, diễm lệ hay không lại là chuyện khác. Nếu biết rằng có những tỉnh đã và đang xây trụ sở hoành tráng, hàng năm vẫn “vác rá” xin hỗ trợ.
Cái cách đua nhau chơi sang trước con mắt người dân nghèo, theo các chuyên gia kinh tế, quản lý xã hội, có nhiều nguyên nhân. Nhưng có một nguyên nhân dở nhất, đó là bệnh thành tích. Mà bệnh thành tích này lại xuất phát từ những …tiêu chuẩn rất lạ của nước Việt- đó là cách tính GDP.
Nước Việt nên gọi là “đất nước của những cái lạ”. Cách tính nợ công đã chẳng giống đâu. Nay lại đến cách tính GDP.  Khiến cho người đứng đầu CP từng phải nhận xét: "Cách tính GDP ở các địa phương hiện nay không sát thực tế và so với quốc tế, không giống ai".
Theo Ths Bùi Ngọc Sơn (Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị thế giới), và Ts Nguyễn Trí Hiếu (chuyên gia kinh tế), với cách tính GDP hiện nay, xây dựng cơ bản có mối liên quan rất chặt chẽ đến việc quyết toán chi phí, làm tăng trưởng GDP. Mà được tiếng tăng trưởng, tỉnh nào chả thích?
Mặt khác, dự án càng lớn, khả năng “hoa hồng” nở trên các công trình xây dựng, trên sắt, thép, bê tông càng… bẫm. Tự lúc nào dân gian cũng nhìn thấu “tình yêu hoa hồng” này, nên có câu tổng kết đắng chát: Muốn có ăn thì phải đẻ ra các dự án. Thế nên, xây trụ sở hoành tráng là được anh được ả được cả đôi bên. Tội gì không xây, vừa có tiếng vừa có miếng. Dù cái tiếng ấy là … tai tiếng
Nếu GDP nước Việt biết nói, thì sẽ nói gì nhỉ? Hay sẽ nói một cách cay đắng- toàn là của ta phúc các người?
Nhưng cái phúc ấy rất khó bền. Bởi đôi chân kinh tế nhiều tỉnh đang phải  “đứng kiễng”. Một ví dụ sinh động hiển nhiên mới đây. Có trụ sở to nhưng chỉ số năng lưc cạnh tranh (PCI) một số tỉnh bỗng không chịu… cạnh tranh mạnh nữa. Năm 2013, Vũng Tàu bị tụt 18 hạng, đứng thứ 39/64 tỉnh, t/p cả nước. Còn tỉnh Bình Dương đang thứ hạng 19 (năm 2012) bỗng tụt xuống thứ 30.
Chả lẽ, các địa phương có trụ sở hoành tráng cũng nên chuẩn bị sắm cho mình… chiếc áo phin nõn, cổ áo bô đê cùng với chiếc nhẫn vàng (giả) to sụ?

                                                  ***

II- Cách đây hai năm, tháng 10/2012 trong đời sống sinh hoạt nước Việt dấy lên câu chuyện bỏ phiếu tín nhiệm.                      Với mục đích, kết quả của việc lấy phiếu tín nhiệm sẽ là chỉ số khách quan, khơi mào cho việc hình thành một lối ứng xử rất văn minh của các quan chức. Đó là văn hóa từ chức. Nay câu chuyện này lại trở lại khi có ý kiến đề xuất đưa quy định về việc từ chức vào một bộ luật mới.
Ấn tượng trong tuần, mốt hoành tráng, đất nước, cái lạ, Kỳ Duyên, từ chức, văn hóa
Thật ra, từ chức của các quan chức ở nhiều quốc gia là hành động rất bình thường, thậm chí như tất yếu. Hôm nay quan mai đã lại … dân rồi./ Anh vẫn hiểu làm quan là như thế (xin mượn ý thơ của Xuân Quỳnh). Mới có khái niệm văn hóa lãnh đạo và văn hóa từ chức- cũng là một cặp đôi “hoàn hảo” khác.
Cặp đôi này trở thành một trong những tiêu chí của một xã hội phát triển, con người đề cao văn hóa sống, văn hóa ứng xử với cộng đồng của giới quan chức. Nhìn ra thế giới, văn hóa ứng xử đó khiến cho nhân loại phải nể trọng, tôn trọng, vì tư cách người trong cuộc.
Thế giới vẫn còn nhớ câu chuyện ông Bộ trưởng Giao thông Ai Cập đã từ chức sau tai nạn thảm khốc giữa xe buýt và tàu hỏa (ngày 17/11/2012) khiến 51 em nhỏ nước này thiệt mạng. Rồi ông Bộ trưởng Thương mại Mỹ John Bryson từ chức ngày 21/6/2012 vì liên quan đến một vụ tai nạn giao thông.
Chỉ tiếc cái văn hóa ứng xử với cộng đồng kiểu đó, trong xã hội ta, còn quá hiếm và quý.
Có duy nhất hai vị quan chức VN từ chức, vì trọng danh dự, lại rơi vào trường hợp cả hai người này vẫn đang làm tốt nhiệm vụ của mình. Đó là GS TSKH Nguyễn Kế Hào (nguyên Vụ trưởng Vụ Tiểu học- Bộ GD), và ông Lê Huy Ngọ (nguyên Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn). Cũng lại thêm một “cái lạ” nữa của nước Việt.
Trong khi đó, có những quan chức khác sai phạm vì kém cỏi năng lực, người dân khẩn thiết đề nghị từ chức, thì lại từ chối. Kiểu như sai vắc xin thì xử vắc xin. Khiến văc xin bỗng như văc… xỉn.
Vì sao ở nước Việt, dư luận xã hội cứ nói hoài về văn hóa từ chức, mà cái văn hóa này không chịu thành… văn hóa? Xét cho cùng, lỗi không chỉ thuộc về con người, mà còn thuộc về xã hội, với những quy chuẩn, đặc điểm tâm lý truyền thống, và những chính sách cụ thể.
Thứ nhất, xã hội ta từ xưa đến nay vẫn là xã hội hư học, trọng “hư danh”. Đến mức một miếnggiữa làng bằng một sàng xó bếp. Cái danh ở đây chính là cái ghế quyền lực. Mặt khác, tâm lý dòng họ, cộng đồng làng quê vốn rất nặng nề khiến cho cái ghế càng trở nên được tôn vinh, được vẻ vang, bởi một người làm quan cả họ được nhờ.
Thứ hai, các chính sách của Nhà nước bao giờ cũng tính đúng, tính đủ về quyền lợi cho các chức danh quản lý. Đây cũng chính là một điểm hấp dẫn của cái ghế quyền lực. Vì thế con người ta bằng đủ mọi cách để leo lên chiếc ghế quyền lực, mấy ai thích làm … chuyên viên?
Thứ ba, trong bối cảnh chạy chức, chạy quyền là một căn bệnh trầm kha của nước Việt, thì đã có ghế, người chủ cái ghế phải làm sao “quay vòng lợi tức” cho nhanh.  Cái ghế bỗng trở thành một loại "túi Thạch Sanh".
Thứ tư, cái ghế quyền lực luôn gắn với lợi ích, bổng lộc. Đặc điểm này có thể phổ biến ở tất cả các quốc gia. Nhưng lợi ích, bổng lộc đó hoặc sẽ bị kiểm soát, giám sát, hoặc sẽ được… thả nổi tùy thuộc vào cơ chế quản lý, vào nền quản trị mỗi quốc gia minh bạch hay tù mù, văn minh hay tụt hậu. Cái ghế quyền lực, cũng tùy thuộc vào cơ chế, vào nền quản trị quốc gia đó, mà trở thành “ma lực” hoặc chỉ là một phương tiện để con người thực hiện bổn phận công dân do tài năng, năng lực của họ. Cái ghế đó, ở nơi này là phương tiện tỷ thí “chí làm trai”, ở nơi kia là mục đích kiếm lợi vĩnh viễn
Vì thế, hành vi tự giác từ chức, rời bỏ cái ghế quyền lực dễ dàng hay khó khăn, không chỉ tùy thuộc nhân cách, phẩm cách con người cụ thể. Mà còn tùy thuộc vào sự điều chỉnh của cả một thiết chế văn minh, tiên tiến hay lạc hậu, khoa học hay phi khoa học, xác lập thành lối sống, thói quen tự giác hay không tự giác? Điều đó lý giải những hành vi từ chức ở mỗi quốc gia hoặc nhẹ như lông hồng, hoặc ngược lại, nặng như… đá đeo. Bởi nó cũng là sản phẩm của mỗi nền quản trị, mỗi thiết chế chính trị khác nhau.
Sự khác biệt về văn hóa từ chức không chỉ là sự khác biệt trách nhiệm cá nhân, mà còn là sản phẩm hành xử khác biệt của hai tầm tư duy, hai nền quản trị khác biệt, cho dù các quốc gia cùng chung sống dưới bầu trời thế kỷ 21. Chẳng thế, câu hỏi đặt ra cho người từ chức ở nước Việt thường là “khôn hay dại”? Mà ít ai đặt ra là liêm sỉ con người, có còn hay không?
Nhà sử học Dương Trung Quốc, trong trả lời báo Dân trí mới đây, ngày 14/10, cho thấy cái sự khó khăn của người chẳng may phải từ chức:
Cơ chế hiện nay đúng là khó vì khi đã là chính khách, công tác nhân sự rõ ràng phải qua một quy trình, việc “tiến” hay “thoái” đều khó mà tự lựa chọn. Vậy nên để thực hiện việc này phải đồng bộ, Đảng cần tạo ra một nhận thức chung và một cơ chế thuận lợi cho việc từ chức, chứ nếu quan niệm từ chức là một hình thức kỷ luật thì đầu tiên, người từ chức phải ra khỏi Đảng. Mà như thế thì dứt khoát người ta không ra.
Nợ công, mốt trụ sở hoành tráng, hay văn hóa từ chức có vẻ chẳng ăn nhập gì nhau. Nhưng nền tảng của những vấn đề nóng hổi tính thời sự đó vẫn là câu hỏi nhức nhối: Nước Việt có thể tiếp cận thế giới hiện đại hay vẫn “một mình một chợ”  không bước kịp với văn minh nhân loại?
Sự không bước kịp đồng nghĩa với tụt hậu, cho dù có chiếc… áo phin nõn, gấu bô đê và chiếc nhẫn vàng (giả) to sụ!
Theo vietnamnet.
Kỳ Duyên